1.000 ngày giữ đảo
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Hữu Trạc là người lính kiên cường đã gần 1.000 ngày bám trụ giữ đảo Cồn Cỏ, tiền đồn "mắt thần" của miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ. Ông nhập ngũ năm 1962 ở tuổi 20, năm 1965 đề xuất cả trung đội cạo trọc đầu để tiết kiệm nước ngọt, giành quyền ra đảo giữ vững tuyến phòng thủ trước hàng vạn tấn bom đạn của Mỹ. Năm 1968, sau khi được điều về đất liền chỉ huy đánh chặn tiếp viện địch lên Khe Sanh, ông bị bom nổ chậm làm mất thị lực vĩnh viễn ở tuổi 28.
Họ và Tên: Đỗ Hồ Bảo An
Trường THPT Thuận Châu
Địa chỉ Xã Thuận Châu, Tỉnh Sơn La
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Hữu Trạc là người lính đã trải qua gần 1.000 ngày bám trụ giữ đảo Cồn Cỏ, tiền đồn "mắt thần" của miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Năm 1962, khi vừa bước sang tuổi đôi mươi, ông nhập ngũ và biên chế vào Đại đội Lê Hồng Phong, Tiểu đoàn 4, Sư đoàn 341 đóng quân tại Vĩnh Linh, Quảng Trị với nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến. Đến năm 1965, khi đảo Cồn Cỏ trở thành mục tiêu đánh phá liên tục của máy bay và tàu chiến Mỹ, với tư cách là Trung đội phó, Bí thư chi bộ, ông đề xuất sáng kiến cạo trọc đầu cho cả trung đội để tiết kiệm nước ngọt, qua đó giành được quyền được cử ra giữ đảo. Đêm tháng 7 năm 1965, Trung đội 3 do ông dẫn dắt vượt 17 hải lý đặt chân lên đảo, và trong gần 3 năm bám trụ, các chiến sĩ phải đối mặt với mật độ bom đạn khủng khiếp: theo thống kê giai đoạn 1964-1968, trên 13.000 quả bom và hàng vạn quả rocket cùng hơn 4.000 quả đạn pháo từ tàu chiến đã được ném xuống đảo, bình quân mỗi chiến sĩ phải hứng chịu gần 40 tấn bom đạn, mỗi héc đất chịu 22,6 tấn. Nhiều thời điểm tiếp tế từ đất liền bị cắt đứt hoàn toàn, các chiến sĩ phải chặt chuối rừng vắt nước uống, vừa chiến đấu liên tục vừa đào công sự, hầm hào, và nhiều đồng đội đã mãi nằm lại trên đảo. Giai đoạn ác liệt đó chỉ có thể vượt qua nhờ sự hỗ trợ kiên cường của cán bộ, nhân dân Vĩnh Linh, đặc biệt là cụ Thục đã theo dõi thời tiết để định hướng cho các chuyến tiếp tế và đưa thương binh ra vào đảo an toàn. Mùa xuân năm 1968, ông được điều động về đất liền chỉ huy Đại đội Lê Hồng Phong, thực hiện nhiệm vụ chặn đường tiếp viện của địch lên chiến trường Khe Sanh, với nhiều chiến công nổi bật như đánh chặn tàu địch ở Cửa Việt, đánh sập cầu Bến Ngự, tiêu diệt đại đội thủy quân lục chiến và bắt sống trung úy Mỹ. Đến tháng 8 năm 1968, khi đang giữ chức Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 4, đi trinh sát trận địa phía Tây Vĩnh Linh để chuẩn bị phòng chống đổ bộ đường không của địch, ông gặp phải bom nổ chậm, chiến sĩ liên lạc đi cùng hy sinh tại chỗ còn ông bị thương nặng, vỡ nhãn cầu cả hai mắt, mãi mãi mất thị lực ở tuổi 28.


