Cựu chiến binh

1. LƯƠNG VĂN BƯƠNG

Thành cổ Quảng Trị “những điều không thể gọi tên nhưng không thể quên”

Thanh Hóa29/01/2026Lương Xuân Thắng (Chi đoàn Bản Khuông)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sinh ra trong những ngày vận nước ở thế “nghìn cân treo sợi tóc”. Ông: Lương Văn Bương đã mang trong mình một ý trí kiên cường, không ngại khó, không ngại khổ,…

Ông được sinh ra vào năm 1946, thời điểm mà khi đó thực dân Pháp nổ súng tái xâm lược Việt Nam ngày 23/9/1945, khi đó đất nước đang trong tình trạng “nghìn cân treo sợi tóc”, tuổi thơ đầy rẫy những khó khăn, thử thách,… rồi năm 23 tuổi ông nhận được lệnh lên đường ra tiền tuyến nơi mưa bom bão đạn, trong ông hiện lên những cảm xúc khó tả, nhưng với ý trí mạnh mẽ của ông cùng với sự động viên tinh thần của hai người bạn đồng hương “chúng tôi đã cùng nhau lên đường hành quân” với tinh thần “chỉ được đi đêm, không được đi ngày” vào nơi huấn luyện ở Ngọc Liên, Ngọc Lặc.

Tại nơi huấn luyện với vỏn vẹn thời gian huấn luyện là 6 tháng, hết 6 tháng huấn luyện ông cùng những người đồng đội đã lên đường hành quân ra chiến trường, 23 tuổi ở độ tuổi chín của những thanh niên thời kháng chiến, ngày đó ông và những người đồng đội đã là những mũi nhọn đi đầu xung phong trong các trận đánh lớn nhỏ bảo vệ từng cứ điểm, từng tấc đất của đất mẹ thiêng liêng.

Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị diễn ra trong 81 ngày đêm (bắt đầu ngày 28/6/1972 và kết thúc vào ngày 16/9/1972) là một trong những sự kiện mà ông nhớ mãi trong kí ức của người lính trẻ những năm tháng nơi chiến trường. khi đó ông 26 tuổi đã trải qua nhiều trận đánh, nhưng vẫn phải kinh ngạc trước sự tàn khốc và sương máu ở chiến trường Cố Đô, qua lời ông, ông là một trong những người có mặt đầu tiên ở chiến trường Thành Cổ, ngay từ những giây phút đầu tiên ở chiến trường rực lửa, khi vừa đặt chân đến đã phải nhanh chóng tập trung để đối đầu với lượt đạn của quân địch, những người bạn, những người đồng chí không kịp hỏi nhau tên tuổi, có những người cùng sát cánh chiến đấu nhưng ông chỉ mới thoáng qua giây phút tập chung, sau đó đã có những người tuổi xuân phải gửi lại nơi Thành Cổ, ông kể mà khóe mắt ông cay cay như nhớ lại một thời sinh tử. rồi cuộc chiến vẫn phải tiếp tục, ông cùng đồng đội đào hào, sinh hoạt ăn uống cực kì là khó khăn, đối mặt với mưa gió tầm tã lúc nào cũng phải cảnh giác cao độ vì địch có thể tấn công bất ngờ, trong hoàn cảnh cái chết luôn rình rập, ông cùng những người đồng đội luôn giữ vững ý chí kiên cường, bất khuất, sẵn sàng hy sinh. Trong một lần đối mặt với kẻ địch cùng với tiếng bom xé trời, trong một khoảnh khắc ông bị sóng xung kích từ lượt dội bom của kẻ địch và bị hất tung ra xa va vào một gốc cây khô, khi đó đã có một người đồng đội đỡ lấy ông, ký ức về người đồng đội đó cho đến tận ngày hôm nay, bước qua lằn ranh sinh tử ông cùng những người đồng đội tiếp tục tiến lên mặc cho khói lửa mù mịt, trong lòng chỉ nghĩ “chiến đấu đến hơi thở cuối cùng”. Trải qua 81 ngày đêm tại nơi chiến hào ngập máu, đất đá nhuộm đỏ, những lần cái chết cận kề, và gần 6 năm quân ngũ, đến năm 1975 ông được trở về vùng biên tiếp tục công tác vì người dân mà phục vụ.

Khói lửa đã lắng lại, nhưng những kí ức về những năm tháng khói lửa, những khoảnh khắc sống - chết sẽ khắc sâu trong kí ức của một người lính mà ông đã cống hiến cả một thời thanh xuân.

Nhìn vào thế hệ trẻ hôm nay lớn lên trong hòa bình ông có đôi lời gửi gắm: “thế hệ các ông đã đi qua gian khổ, mất mát để có hòa bình ngày hôm nay, thế hệ các cháu phải cố gắng làm sao để xứng đáng với những đau thương mất mát đó để tiếp tục xây dựng quê hương đất nước, giàu đẹp”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
1. LƯƠNG VĂN BƯƠNG | Câu chuyện thời hoa lửa