10 Năm Nếm Mật Nằm Gai Qua Hai Cuộc Chiến
Tiếp nối những trang sử vàng của thế hệ cha anh, câu chuyện của cựu chiến binh Siều Văn Thẹ (sinh năm 1954) là một bản hùng ca đầy gian khổ nhưng vô cùng oanh liệt. Nhập ngũ năm 1971 khi vừa tròn 17 tuổi – lứa tuổi thanh niên phơi phới sức trẻ, và xuất ngũ năm 1981, tròn một thập kỷ khoác trên mình màu áo xanh chiến sĩ của ông Thẹ là chặng đường hành quân không mỏi.
Ông đã đi qua những giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, chứng kiến ngày độc lập vẹn tròn năm 1975, để rồi sau đó lại tiếp tục bám chốt, giữ biên khương và làm nghĩa vụ quốc tế cao cả. 10 năm binh nghiệp đầy máu và hoa ấy đã để lại trong tâm khảm người cựu binh già một kỷ niệm thắt quặn lòng về tình đồng đội nơi đại ngàn Trường Sơn.
10 Năm Nếm Mật Nằm Gai Qua Hai Cuộc Chiến
Vào năm 1971, khi tiếng súng chiến trường miền Nam đòi hỏi sự chi viện cấp bách, chàng trai trẻ Siều Văn Thẹ đã tình nguyện viết đơn lên đường nhập ngũ. Đơn vị của ông sau những ngày huấn luyện nghiêm ngặt đã lập tức hành quân xẻ dọc dãy Trường Sơn, tiến vào mặt trận phía Nam. Dưới tán rừng già, bom đạn, chất độc hóa học của kẻ thù và những cơn sốt rét rừng ngã nước là những thử thách nghiệt ngã thử thách lòng dũng cảm của những người lính trẻ mỗi ngày.
Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, hòa bình chưa được bao lâu thì bóng mây chiến tranh lại bao phủ vùng biên giới. Một lần nữa, người chiến sĩ Siều Văn Thẹ lại gác niềm riêng, cùng đơn vị hành quân lên những dải biên cương xa xôi, hiểm trở để giữ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc cho đến tận năm 1981.
"Mười năm làm kiếp quần đùi áo vải, đi qua bao dốc đá tai mèo, bao trận địa sạt lở vì bom pháo, cái giúp chúng tôi đứng vững và vượt qua thần kỳ chính là cái nắm tay siết chặt, là sự nhường nhịn nhau từng hớp nước, củ sắn của những người đồng chí chung một chiến hào." – Ông Thẹ bùi ngùi nhớ lại.
Kỷ Niệm San Sẻ Sự Sống Bên Bờ Suối Cạn Năm 1973
Trong suốt một thập kỷ rực lửa ấy, kỷ niệm khắc sâu vào tâm khảm của cựu chiến binh Siều Văn Thẹ xảy ra vào mùa khô năm 1973, tại một vùng chiến trường Tây Nguyên khốc liệt. Lúc bấy giờ, tiểu đội của ông nhận nhiệm vụ hành quân luồn sâu, bám sát di biến động của địch. Mùa khô Tây Nguyên như một chảo lửa khổng lồ, nắng thiêu đốt vạn vật, các dòng suối đều trơ đáy, đất cát bốc lên bụi mờ.
Sau hai ngày đêm hành quân liên tục và đụng độ nhỏ với các toán thám báo địch, nguồn nước dự trữ trong đông-gô (bình tông) của anh em đã hoàn toàn cạn kiệt. Cổ họng ai cũng khô khốc, môi nứt nẻ chảy máu, cái khát như thiêu đốt từng khúc ruột khiến đôi chân rã rời. Giữa lúc tưởng chừng như kiệt sức không thể bước tiếp, ông Thẹ và người đồng đội thân thiết tên mến là anh Đức phát hiện ra một khe đá nhỏ bên bờ suối cạn, nơi có vài giọt nước rỉ ra, đọng lại trong lòng một chiếc lá khoai thục rách.
Lượng nước ít ỏi ấy chỉ vừa đủ một ngụm nhỏ, nhưng đối với họ lúc đó, nó quý hơn cả mạng sống. Anh Đức cẩn thận bế chiếc lá lên, đưa sát vào môi ông Thẹ và bảo: "Thẹ, mày sức yếu hơn, lại đang bị sốt nhẹ, uống đi để lấy sức mà đi tiếp!". Ông Thẹ nhìn gương mặt hốc hác, đôi mắt sâu hoắm vì mất nước của bạn, kiên quyết đẩy ra: "Không, mày là mũi nhọn dẫn đường, mày phải tỉnh táo để đưa anh em ra khỏi vùng này. Mày uống đi!".
Hai người cứ đùn đẩy nhau giữa ranh giới thiêng liêng của sự sống. Cuối cùng, không ai chịu uống một mình. Ông Thẹ nảy ra sáng kiến: hai anh em dùng ngón tay chấm lấy những giọt nước hiếm hoi đó, nhỏ vào môi cho nhau, số còn lại dành để thấm vào chiếc khăn mùi soa cũ, cẩn thận lau mát cho người tiểu đội trưởng đang nằm hôn mê vì kiệt sức ở phía sau.
Ngay chiều hôm đó, nhờ ý chí kiên cường và tình đồng đội keo sơn tiếp thêm sức mạnh, tiểu đội của ông đã tìm được đường về căn cứ an toàn, kịp thời bổ sung nhu yếu phẩm và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Ngụm nước không uống ngày ấy đã trở thành dòng mạch ngầm nuôi dưỡng một tình bạn, tình đồng chí vĩnh cửu.
Son Sắt Tình Đời, Vẹn Nguyên Tình Bạn
Năm 1981, khi biên cương đã phần nào lặng tiếng súng, cựu chiến binh Siều Văn Thẹ nhận quyết định xuất ngũ, chia tay giảng đường binh nghiệp để trở về với cuộc sống đời thường.
Mười năm dâng hiến tuổi thanh xuân rực rỡ nhất cho Tổ quốc, hành trang ông mang về quê hương là một cơ thể hằn sâu vết sẹo chiến tranh cùng những cơn đau nhức mỗi khi trái gió trở trời. Thế nhưng, bản lĩnh thép được tôi luyện từ chiến trường đã giúp ông đứng vững trước những sóng gió, lo toan của cuộc sống. Ông tích cực tăng gia sản xuất, gương mẫu trong các phong trào cựu chiến binh tại địa phương và luôn giáo dục con cháu sống thủy chung, nghĩa tình.
Đối với ông Siều Văn Thẹ, quãng thời gian từ năm 1971 đến năm 1981 là những năm tháng kiêu hãnh và tự hào nhất trong cuộc đời. Câu chuyện về những giọt nước nghĩa tình nơi bờ suối cạn năm 1973 vẫn luôn được ông kể lại vào mỗi dịp gặp mặt đồng ngũ, như một minh chứng sống động cho phẩm chất cao đẹp của Anh bộ đội Cụ Hồ – những người sẵn sàng nhường nhau sự sống để cùng nhau làm nên chiến thắng



