100 ngày đấu trí với CIA của Thiếu tá tình báo lừng danh Sài Gòn
Rơi vào sào huyệt kẻ thù, Thiếu tá tình báo Nguyễn Văn Thương trải qua 100 ngày đấu trí nghẹt thở, cắn răng chịu đựng tra tấn. Cuối cùng, địch chịu thua, gọi ông là "sinh vật thép".

Một đêm trăng năm 1969, căn biệt thự ở vùng ngoại thành Sài Gòn tĩnh lặng khác thường. Giữa lúc ông Nguyễn Văn Thương trằn trọc trên giường, cánh cửa khẽ mở. Thùy Dương - cô gái được CIA bố trí để chăm sóc và khai thác tâm lý tù binh - nhẹ nhàng bước vào, cất giọng hỏi một câu tưởng như vô hại: "Anh có thích ánh đèn ngủ màu hồng không?".
Ở tuổi thanh niên, đứng trước cô gái xinh đẹp, ông Nguyễn Văn Thương đã trải qua những giây phút thực sự khó khăn. Trong căn biệt thự do CIA kiểm soát, đó không chỉ là cuộc thử thách nghẹt thở đối với bản năng con người, mà còn là trận chiến giữa ý chí của người lính và những thủ đoạn tâm lý tinh vi bậc nhất thời chiến.
Không phải ngẫu nhiên CIA dành cho ông Nguyễn Văn Thương chế độ giam giữ đặc biệt cùng những đòn tâm lý chiến tinh vi đến vậy. Trong mắt kẻ địch, đó là "con cá vàng" vừa sa lưới.
Thiếu tá tình báo Nguyễn Văn Thương (1938-2018, còn gọi là Hai Thương) lớn lên trong gia đình có truyền thống cách mạng tại vùng quê nghèo ở tỉnh Tây Ninh. Tuổi thơ của ông nếm trải nỗi đau mất mẹ, xa cách cha từ nhỏ. Mẹ ông bị bắt, đày đi Côn Đảo rồi hy sinh năm 1941.
Học chưa xong bậc tiểu học, ông Thương xin đi làm phu ở đồn điền cao su với mục đích kiếm tiền đi làm liên lạc. Cha ông là cán bộ quân báo, từng đi học ở phương Tây, sau đó bị địch bắt và hy sinh trong nhà tù ở Tây Ninh năm ông 20 tuổi. Trưởng thành cùng phong trào cách mạng ở miền Nam, ông Thương nhập ngũ năm 1958, là chiến sĩ đặc công lập nên nhiều chiến tích.
Năm 1959, ông được điều về làm vệ sĩ cho đồng chí Sáu Dân (cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt). Khi Phòng Tình báo Bộ Tham mưu B2 (J22) thành lập, lực lượng tình báo miền Nam cần bổ sung nhân sự tinh nhuệ, ông Sáu Dân nói với cấp trên: "Tôi có mấy anh em rất cừ, trong đó có Thương. Giao Thương cho mấy anh tôi tiếc lắm". Dẫu vậy, ông vẫn đồng ý để người cận vệ tin cậy chuyển sang ngành tình báo.
Bước vào công việc mới, ông Hai Thương thuộc nằm lòng bài học đầu tiên: "Tài liệu là điệp viên, mất tài liệu là mất điệp viên". Được đồng chí Mười Nho (Đại tá Nguyễn Xuân Mạnh, lúc đó là Trưởng ban tình báo khu Sài Gòn - Chợ Lớn) huấn luyện trực tiếp, ông làm nhiệm vụ giao thông tình báo, chuyển tài liệu từ nội đô ra chiến khu và ngược lại.
Trong giới tình báo, các cụm hoạt động càng tách biệt càng tốt. Người của cụm này không biết người của cụm kia. Nhưng ông Thương là ngoại lệ hiếm hoi. Suốt gần 10 năm, ông đi qua nhiều cụm như A18 (tiền thân của H63), A20, A22 rồi đến năm 1967 trở thành Trưởng mũi giao thông Cụm tình báo A36.
Nhiệm vụ chủ yếu của ông là vận chuyển về căn cứ Trung ương Cục miền Nam những tài liệu đặc biệt quan trọng do đồng chí Ba Quốc (Thiếu tướng Đặng Trần Đức) chuyển ra. Có thể nói, ông là mắt xích hiếm hoi biết nhiều tuyến giao liên tuyệt mật, trực tiếp mang những tin tức có thể ảnh hưởng đến cục diện chiến trường miền Nam.
Lưỡi cưa và tinh thần thép
Chiếc xe bịt bùng rời khỏi biệt thự cũng là lúc màn dụ dỗ khép lại. Giam lỏng 100 ngày không mua chuộc được Hai Thương, kẻ địch bước vào quá trình tra tấn cực hình kéo dài. Thấy ông không lay chuyển, chúng quyết định cưa sống đôi chân của ông, tổng cộng 6 lần trong suốt 3 tháng.
Cứ mỗi lần vết thương lên da non, người chiến sĩ lại bị lôi lên bàn mổ, đôi chân bị cắt cụt đến háng. Kẻ địch không muốn ông chết, chỉ muốn giữ ông sống vừa đủ để tiếp tục tra hỏi. Mỗi lần đưa ông lên bàn mổ, câu hỏi cũ lại được ném ra, có phải Nguyễn Văn Thương không, mạng lưới nằm ở đâu, ai là người liên lạc... Đáp lại, vẫn là những cái lắc đầu, vẫn là câu trả lời chắc nịch: "Tôi là Nguyễn Trường Hân".
"Tôi không thể diễn tả sự đau đớn. Chúng cưa sống, cưa đến khi nào bàn chân tôi rời ra", Thiếu tá Nguyễn Văn Thương sau này kể lại.
Những kẻ trực tiếp cầm cưa dần chán nản. Gương mặt chúng hiện rõ vẻ mệt mỏi và khiếp sợ, không hiểu vì sao xương thịt người tù ấy bị cắt đi trong đau đớn mà vết thương vẫn liền dần, vì sao một con người chịu đau đến mức ấy vẫn không bật ra tiếng kêu van xin.
Cuộc giằng co kéo dài đến mức ngay những sĩ quan cao cấp Mỹ có mặt cũng không giấu nổi kinh ngạc. Họ chứng kiến một con người mất máu, sốt cao, thân thể dần tàn phế nhưng ý chí không hề gãy đổ. Sau đợt cưa chân lần thứ sáu, ông nằm trên cáng, người gầy rộc như bộ xương, cân nặng chỉ còn bằng đứa trẻ, nhưng ánh mắt vẫn tỉnh táo lạ thường.
Trung tá Mỹ tiến đến, nhìn thân thể chỉ còn một nửa của ông, thốt lên: "Ông là sinh vật bằng thép. Chúng tôi chào thua ông".
CIA bất lực, hồ sơ khép lại với vài dòng y nguyên: "Nguyễn Trường Hân, cha mẹ mất, anh em thất lạc. Nghề nghiệp: Thanh niên trốn lính".
Rời tay CIA, ông Thương tiếp tục bước vào những năm tháng tù đày khắc nghiệt tại trại giam Hố Nai rồi đến trại giam đảo Phú Quốc. Không còn đôi chân lành lặn, ông vẫn bí mật tổ chức đấu tranh, truyền tin, gây dựng chi bộ trong tù.
Chính vì thế, ông bị xếp vào diện "tù ngoan cố, chai lì, nguy hiểm", trở thành cái gai của những kẻ quản ngục. Hai mươi tháng tại trại giam Hố Nai, ông bị giam 3 tháng tại thùng sắt, 15 tháng biệt giam cấm cố. Về sau, mỗi khi nhắc lại đời tù, Nguyễn Văn Thương nói 3 tháng bị giam cầm trong chiếc thùng sắt tại trại giam Hố Nai vẫn là ký ức ám ảnh nhất.
Trong không gian chật hẹp, ngột ngạt như lò nung, mọi sinh hoạt của ông đều phải lê lết bằng đôi tay. Cái đói, cái khát bào mòn từng ngày. Có lúc khát đến cùng cực, ông phải uống cả nước tiểu của mình mà vẫn không nguôi cảm giác cháy khát ở cổ.
Kẻ địch muốn để ông tàn lụi dần trong bóng tối và sức nóng ngột ngạt. Nhưng Nguyễn Văn Thương vẫn sống - điều mà ngay cả những kẻ giam cầm ông cũng không thể lý giải.
Hai Thương không chỉ chiến thắng bằng ý chí thép. Điều giữ ông đứng vững suốt những ngày tháng bị mua chuộc, bị tra tấn ấy, không chỉ là lý tưởng, mà còn là hình ảnh người vợ hiền, đứa con thơ.



