Khác

10/5/1972 Ngày dài không chiến

Trong suốt cuộc chiến tranh chống Không quân Mỹ đánh phá ra miền Bắc Việt Nam đã diễn ra rất nhiều cuộc không chiến giữa máy bay của Không quân Việt Nam và máy bay của Không quân, Hải quân Mỹ. Trong những cuộc không chiến ác liệt ấy, có thắng, có thua và có cả những trận bất phân thắng bại... Nhưng ngày 10-5-1972 là ngày chiếm giữ nhiều kỷ lục nhất vì đó là ngày có nhiều trận không chiến nhất, kéo dài nhất, ngày mà cả hai bên có nhiều lực lượng tham chiến nhất, ngày có nhiều chủng loại máy bay t

Lai Châu02/07/2026Quân đội nhân dân (xã Sìn Hồ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Tuy cường độ các trận đánh của Không quân và Hải quân Mỹ ra miền Bắc có giảm, song căn cứ vào những dấu hiệu căng thẳng từ cuối năm 1971 thì có thể đoán được năm 1972 sẽ là một năm rất ác liệt, đặc biệt là sau sự kiện "Mùa hè đỏ lửa" ở Quảng Trị.

Có thể điểm qua tình hình năm 1972 như sau: Trên chính trường Mỹ, năm 1972 Tổng thống Mỹ Ních-xơn tái tranh cử, chịu nhiều sức ép lớn phải thực hiện lời hứa trước cử tri Mỹ về việc rút quân Mỹ ra khỏi chiến trường Việt Nam trong danh dự. Hơn ai hết Ních-Xơn (Nixon) hiểu rõ sức ép này và ngay từ khi ngồi vào Nhà Trắng, đã phải chuyển chiến lược can dự trực tiếp sang chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", thực chất là rút dần quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam trong danh dự, nhưng phải hỗ trợ quân sự cho chính quyền Sài Gòn đủ sức chống lại Quân giải phóng.

Với mục tiêu đó, quân số từ hơn nửa triệu quân lúc cao nhất, cho đến mùa xuân năm 1972, Mỹ chỉ còn để lại 95.000 quân đóng ở miền Nam Việt Nam. Các đơn vị Không quân Mỹ đóng ở miền Nam Việt Nam cũng rút xuống chỉ còn ba phi đoàn F-4 và một phi đoàn A-37, với tổng số 76 chiếc máy bay.

Lực lượng Không quân Mỹ ở Thái Lan cũng chỉ còn 161 chiếc F-4, 52 chiếc "Pháo đài bay" B-52, 16 chiếc F-105.

Tại căn cứ trên đảo Guam, có 31 chiếc B-52.

Ngoài khơi trên Biển Đông, Hải quân Mỹ vẫn có hai tàu sân bay là USS Coral Sea và USS Hancock, mỗi chiếc chở 70 máy bay.

Tuy nhiên, chiến lược này của Mỹ bộc lộ một điều rằng, tất cả hoàn toàn không đạt được mục đích đã đặt ra vì các vị trí chiến lược của chính quyền miền Nam Việt Nam vẫn liên tục bị tấn công. Phía Quân giải phóng rõ ràng đã chuyển sang tổng tiến công cùng với sự chi viện rất lớn từ miền Bắc, thông qua "đường mòn Hồ Chí Minh".

Trước nguy cơ mất miền Nam Việt Nam, các thế lực của "phái diều hâu" Mỹ đã gây áp lực cho Tổng thống Ních-xơn buộc phải có hành động mạnh mẽ đế ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc Việt Nam và bảo vệ chính quyền miền Nam Việt Nam.

Nhưng Tổng thống Mỹ đã trót hứa với cử tri về kê hoạch rút quân rồi!

Tổng thống Ních-Xơn đau đầu trước sự đối mặt nghiệt ngã, cố tìm lấy một giải pháp.

Trong cuốn hồi ký "No more Vietnam", Ních-Xơn đã viết:

"Chỉ có hai đòn chiến lược may ra mối có thể cứu vãn được thất bại tại Việt Nam. Hoặc là ném bom tổng lực hệ thống đê điều ở Bắc Việt Nam, hành động có thể gây ra lũ lụt, giết chết hàng chục ngàn dân thường, hoặc là chúng ta phải sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật giống như Tổng thống Ai- xen-hao (Eisenhower) năm 1954 (khi ông ta phải cân nhắc sử dụng bom hạt nhân để cứu vãn sự thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ). Tôi không nghiêng về phương án sử dụng vũ khí hạt nhân và tôi cũng kiên quyết không oanh kích hệ thông đê điều, cả hai giải pháp ấy đều có thể gây ra phản ứng cả ở trong và ngoài nước, phá hỏng chính sách đối ngoại của chúng ta trên tất cả các mặt trận... ".

Giải pháp thứ ba được đưa ra là ném bom ồ ạt vào thành phố Hà Nội cũng bị Tổng thống Ních-Xơn bác bỏ. Vậy lối thoát là ở đâu? Có thể tìm thấy ánh sáng ở phía cuối đường hầm hay không? Câu hỏi đặt ra thật khó có câu trả lời thỏa đáng.

Trong tình thế lúng túng, bế tắc như "gà mắc tóc" ấy, ngày 4 tháng 5 năm 1972, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, Đô đốc Tô-mátx Mo (Thomas Moore) đã đưa ra kế hoạch "oanh kích các mục tiêu ở miền Bắc Việt Nam và phong tỏa bằng mìn tại các cảng biển của Bắc Việt Nam"...

Cùng ngày 4 tháng 5 năm 1972, Cố vấn An ninh Quốc gia Hen-ri Kít-xinh-giơ (Henry Kissinger) sau khi tạm kết thúc các cuộc hòa đàm cùng ông Lê Đức Thọ tại Pa-ri mà chưa đạt được kết quả như mong muốn, đã trở về Oa-sinh-tơn. Đồng thời, cuộc gặp gỡ giữa Tổng thống Ních-Xơn với Tổng Bí thư L. Bre-giơ-nhép (Brezhnev) tại Mát-xcơ-va cũng bị thất bại. Ních-Xơn đã bị các tướng lĩnh của "phái diều hâu" thuyết phục và đã chấp nhận phương án phong tỏa bằng mìn tất cả các cảng biển của Bắc Việt Nam nhằm ngăn chặn sự lưu thông qua lại và các hoạt động của Hải quân Bắc Việt Nam, cắt đứt mọi nguồn viện trợ từ Bắc vào Nam. Các đường giao thông trên bộ cũng sẽ bị đánh phá, cắt đứt với những khả năng lớn nhất. Không quân và Hải quân Mỹ sẽ tiếp tục oanh kích các mục tiêu quân sự trên đất Bắc Việt Nam.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: 10/5/1972 Ngày dài không chiến« Trả lời #2 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 02:03:31 am »

Thực chất, đây chính là sự thất bại của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và cùng với sự lúng túng, Mỹ bắt buộc phải triển khai chiến lược "tái Mỹ hóa một phần chiến tranh Việt Nam" một cách bị động.

Để thực hiện ý đồ dùng lực lượng Không quân và Hải quân bao vây, cô lập miền Bắc và chặn đứng sự viện trợ từ ngoài vào cùng sự chi viện cho miền Nam, Mỹ đã điều động thêm hai tàu sân bay cùng 58 tàu chiến thuộc Hạm đội 7 vào Vịnh Bắc Bộ, nâng tống số tàu sân bay của Mỹ ở khu vực này lên sáu chiếc. Máy bay chiến thuật, ngoài hơn 100 chiếc F-4 thế hệ mới đã đóng quân sẵn tại Thái Lan, Không quân Mỹ còn điều động hơn 350 chiếc F-4E từ căn cứ Bắc Ca-rô-li-na và toàn bộ Không đoàn chiến thuật số 49 với 72 chiếc F-4D từ căn cứ Niu Mê-hi-cô (New Mexico) đến căn cứ Ta-khơ-li (Takhli). Vậy là tổng số máy bay chiến thuật đã được huy động tới 1.077 chiếc và 200 máy bay chiến lược B-52 (gồm 150 chiếc đóng tại căn cứ Guam và 50 chiếc điều đến Thái Lan)...

Để tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần này, Mỹ có những thay đổi về trang bị và thủ đoạn tác chiến so với cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, trong đó nổi bật là sử dụng đồng nhất chủng loại máy bay chiến thuật tham gia tiến công F-4 các loại c, B, J, R của Không quân và F-8, A-7 của Không quân Hải quân, vũ khí không đối đất, không đối không cũng được cải tiến, nhất là đưa loại vũ khí chính xác đánh vào một loạt cầu cống, nhà máy, kho tàng chiến lược của ta. Tàu tên lửa cũng được đưa lên rất cao, ngang với cửa biển Diêm Điền, Thái Bình để từ đó khống chế các máy bay MiG ra hướng biển. Có những quả tên lửa từ hạm tàu bắn vào tới gần Hải Dương khi máy bay MiG cất cánh lên độ cao 4.000 mét. Đồng thời, Mỹ cũng dùng biện pháp chế áp điện tử mạnh trên các tần số hoạt động của ra-đa cảnh giới, dẫn đường, ra-đa trên máy bay của MiG, ra-đa điểu khiển tên lửa và cả các tần số liên lạc đối không của máy bay ta.

Về phía ta, tất cả đã sẵn sàng cùng với quyết tâm giành thắng lợi trong những chiến dịch mang tính chất quyết định. Sự chỉ đạo chiến lược cùng các yêu cầu của Bộ Tổng Tư lệnh tối cao đối với các lực lượng trong đó Quân chủng Phòng không - Không quân làm nòng cốt, phải chuẩn bị tốt tâm thế, lực lượng và thế trận để sẵn sàng đánh bại mọi đợt đánh phá của Không quân Mỹ vào miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là các đợt đánh phá bằng máy bay B-52.

Các cơ quan, trường học, trẻ em lại tiếp tục sơ tán khỏi Hà Nội và Hải Phòng (khoảng 50 vạn người dân rời khỏi Hà Nội và 21 vạn người rời khỏi Hải Phòng).

Ngay từ cuối năm 1971, các máy bay MiG-21MF đã được lắp ráp và các phi công của Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 cơ bản đã hoàn thành chương trình bay chuyển loại sử dụng loại máy bay này, sau đó, Trung đoàn cơ động vào sân bay Thọ Xuân - Thanh Hóa với nhiệm vụ chính là đánh máy bay Mỹ ở vùng trời khu Bốn, đồng thời còn bổ sung thêm nhiệm vụ đánh đêm.

Đầu năm 1972, thêm một Trung đoàn Không quân tiêm kích nữa ra đời. Đó là Trung đoàn Không quân tiêm kích 927, căn cứ chính đóng tại sân bay Đa Phúc.

Vậy là đến năm 1972, Không quân phân dân Việt Nam đã có bốn Trung đoàn Không quân tiêm kích với ba loại máy bay tiêm kích chiến đấu là MiG-17, MiG-19 và MiG 21.

Đó là chưa kể đến lực lượng Không quân ném bom, vận tải quân sự và trực thăng...

Bố trí vị trí đóng quân của các Trung đoàn Không quân tiêm kích như sau:

Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 sử dụng máy bay MiG-21, đóng tại sân bay Thọ Xuân - Thanh Hóa với nhiệm vụ đánh địch ở khu Bốn và làm nhiệm vụ đánh đêm.

Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 lấy sân bay Kép làm căn cứ, sử dụng máy bay MiG-17 làm nhiệm vụ đánh địch, bảo vệ vùng trời phía Đông và Đông Bắc.

Trung đoàn Không quân tiêm kích 925 đóng quân tại Yên Bái, sử dụng máy bay MiG-19, có nhiệm vụ đánh địch, bảo vệ vùng tròi phía Tây và Tây Bắc.

Trung đoàn Không quân tiêm kích 927 sử dụng máy bay MiG-21, lấy căn cứ chính là sân bay Đa Phúc, phối hợp đánh địch cùng các Trung đoàn Không quân tiêm kích bạn, bảo vệ vùng trời Thủ đô.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn