10A14 PHÂN HIỆU THPT BỈM SƠN
Câu chuyện về Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn - vị Thánh của dân tộc Việt Nam.
Trần Hưng Đạo tên thật là Trần Quốc Tuấn, sinh năm 1228. Ông là con của An Sinh Vương Trần Liễu, cháu vua Trần Thái Tông. Sinh ra trong một gia đình có mối thù nhà phức tạp, khi cha ông là Trần Liễu vì bị Trần Thủ Độ cướp vợ là Thuận Thiên Công chúa cho vua Thái Tông mà ôm hận. Trước lúc mất, Trần Liễu đã trăng trối dặn Trần Quốc Tuấn phải trả thù cho cha. Nhưng Trần Quốc Tuấn là người có tấm lòng yêu nước lớn hơn thù nhà, ông đã gạt bỏ thù riêng để lo cho việc nước.
Trần Quốc Tuấn là người có dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người, thông thạo cả văn lẫn võ. Ông đã từng tìm đọc hết các sách binh pháp, nghiên cứu sâu sắc binh thư yếu lược. Vua Trần Thánh Tông thấy ông là người tài đức vẹn toàn nên đã giao cho ông trọng trách thống lĩnh quân đội.
Vào nửa sau thế kỷ XIII, đế quốc Mông - Nguyên sau khi chinh phục gần hết châu Á và châu Âu, đã ba lần đem quân sang xâm lược Đại Việt. Đây là một thử thách sống còn của dân tộc.
Trước họa xâm lăng, Trần Quốc Tuấn đã thể hiện vai trò kiệt xuất. Năm 1284, trước khi quân Nguyên sang lần thứ hai, ông đã cho triệu tập các vương hầu, tướng lĩnh tại bến Bình Than để bàn kế sách. Ông còn viết ra bài "Hịch tướng sĩ" nổi tiếng để khích lệ lòng yêu nước của quân sĩ. Bài hịch với những câu văn thống thiết: "Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa... chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù" đã khiến cho ba quân đều cảm động, xin quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.
Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai và thứ ba, Trần Hưng Đạo được vua Trần Nhân Tông phong làm Quốc Công Tiết Chế, thống lĩnh toàn bộ quân đội. Ông đã vạch ra kế sách "vườn không nhà trống", cho quân dân rút lui để bảo toàn lực lượng, tránh thế giặc mạnh lúc đầu. Đỉnh cao tài năng của ông là trận Bạch Đằng năm 1288. Biết trước đường rút của tướng giặc là Ô Mã Nhi sẽ đi qua sông Bạch Đằng, ông đã cho quân dân chặt gỗ, đẽo nhọn, đóng cọc ngầm dưới lòng sông. Khi thủy triều lên, bãi cọc bị ngập. Khi quân Nguyên tiến vào, ta cho quân ra khiêu chiến rồi giả vờ thua rút chạy. Giặc đuổi theo, đúng lúc thủy triều xuống, những chiếc cọc nhọn nhô lên, đâm thủng thuyền giặc. Quân ta từ hai bờ sông đổ ra đánh, quân giặc đại bại. Ô Mã Nhi bị bắt sống, hàng vạn quân Nguyên bị tiêu diệt.
Chiến thắng Bạch Đằng đã kết thúc hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên, giữ vững nền độc lập cho Đại Việt.
Sau khi đất nước thanh bình, Trần Hưng Đạo không màng danh lợi, ông về trí sĩ ở Vạn Kiếp. Ông đã biên soạn các sách "Binh Thư Yếu Lược" và "Vạn Kiếp Tông Bí Truyền Thư" để lại cho đời sau.
Năm 1300, ông mất tại Vạn Kiếp. Trước khi mất, ông còn dặn vua Trần Anh Tông rằng: "Phải khoan sức dân làm kế sâu rễ bền gốc". Lời dặn ấy vẫn còn nguyên giá trị đến muôn đời sau.
Nhân dân ta đã tôn thờ ông là Đức Thánh Trần, lập đền thờ ở khắp nơi. Ông là biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết, của lòng yêu nước nồng nàn, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết.



