Bài viết

113- câu chuyện thời hoa lửa

Ninh Bình28/04/2026Đoàn xã Xuân Giang (Đoàn xã Xuân Giang)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Câu chuyện: "Người giữ lửa bên bến Cồn Nhì"

Ông Tư Thục năm nay đã ngoài 80, dáng gầy, lưng đã còng, nhưng giọng kể chuyện vẫn sang sảng như tiếng lệnh năm xưa. Ở xã Giao Hải, huyện Giao Thủy, ai cũng gọi ông là “từ điển sống” của chiến tranh. Căn nhà nhỏ cuối xóm nhìn ra cửa Ba Lạt, nơi ngày trước từng là bến Cồn Nhì – điểm tập kết hàng và người cho cả vùng ven biển Nam Định chi viện miền Nam.

Ngày xếp bút nghiên

Năm 1966, giấy báo nhập ngũ gửi về đúng lúc lúa chiêm đang thì con gái. Ông Thục khi ấy 19 tuổi, đang học dở lớp 10 trường huyện. Không do dự, ông gói vội bộ quần áo, lá thư gửi mẹ còn viết dở, rồi cùng 40 thanh niên Giao Thủy hành quân trong đêm. “Cả làng đưa tiễn mà không dám khóc to. Chỉ có tiếng sóng với tiếng mẹ dặn: sống mà về, con nhé.”

Đơn vị của ông là Trung đoàn 27, Quân khu Tả Ngạn. Ba tháng huấn luyện ở Hòa Bình, rồi vượt Trường Sơn. Đôi chân người Giao Thủy quen lội bùn bắt cáy, giờ mang vác thêm 35kg đạn pháo, vượt đèo, băng suối. Sốt rét rừng quật ngã một phần ba đồng đội trước khi thấy được chiến trường Khu 5.

Ký ức Quảng Trị mùa hè đỏ lửa

Năm 1972, ông có mặt ở Thành cổ Quảng Trị suốt 81 ngày đêm. “Bom pháo nó không ngớt một giây. Đất đá trộn máu, không còn phân biệt ngày đêm.” Trung đội ông chốt giữ phía Đông Bắc Thành cổ. 14 người, sau một tuần còn 4. Khát, uống nước hố bom. Đói, nhai gạo rang lẫn mảnh pháo. Nhưng lệnh giữ chốt thì không ai bước lùi.

Đêm 16/9, đơn vị rút qua sông Thạch Hãn. Ông Thục cõng anh bạn người Giao Long bị thương, bơi qua sông giữa pháo sáng. “Vào đến bờ, sờ lưng bạn thì đã lạnh rồi. Tôi vùi bạn ngay bãi cát, bẻ cành dương làm dấu. Hòa bình, tôi quay lại tìm 3 lần mới đưa được bạn về quê.”

Trở về với biển

1976, ông phục viên, thương tật 2/4. Về Giao Hải, không đòi hỏi chế độ, ông xin ra Hợp tác xã đánh cá. Những năm đói kém, ông cùng mấy anh em cựu binh lập “Tổ thuyền cựu chiến binh Cồn Nhì”, vừa bám biển vừa canh biển. Năm 1988, tàu lạ vào gần bờ, chính tổ của ông báo cho bộ đội biên phòng kịp thời xử lý.

Hòa bình với ông Thục không phải là nghỉ ngơi. 30 năm nay, cứ 27/7 ông lại chống gậy ra nghĩa trang liệt sĩ xã, đọc tên từng người đồng ngũ. Ông tự bỏ tiền làm tủ kính lưu ảnh, kỷ vật của 23 liệt sĩ Giao Hải chưa tìm được hài cốt. Đứa cháu nội hỏi: “Ông giữ làm gì cho cực?”. Ông cười: “Giữ để chúng mày biết cái giá của ngày hôm nay nó mặn như nước biển Cồn Nhì ấy.”

Lời dặn của người ở lại

Bây giờ mắt ông mờ, tai đã nghễnh ngãng, nhưng trí nhớ thì không mờ. Khách đến chơi, ông vẫn mở chiếc hòm gỗ, lôi ra tấm bản đồ Thành cổ vẽ tay, chiếc bi đông méo vì mảnh pháo, và lá cờ giải phóng cất từ 1975.

“Chiến tranh qua rồi, nhưng không được quên,” ông nói chậm. “Tao không kể công. Tao chỉ sợ tụi trẻ nghĩ hòa bình nó tự nhiên mà có. Mỗi tấc đất, tấc biển này đều có máu của bạn bè tao.”

Ở Giao Thủy, người ta vẫn truyền nhau câu nói của ông: “Cựu chiến binh chết thì hết, nhưng chuyện của người lính thì phải còn. Để mai sau, con cháu còn biết cúi đầu trước một nắm đất.”

---

Đây là câu chuyện được dựng lại dựa trên ký ức chung của nhiều cựu chiến binh vùng ven biển Nam Định thời chống Mỹ. Nếu bạn muốn viết về một bác cụ thể ở xã mình, cho tôi tên, đơn vị, trận đánh bác từng tham gia, tôi sẽ viết sát hơn theo lời kể của bác.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn