12 Năm Áo Vải Chân Trần Qua Những Chiến Dịch Lịch Sử
12 Năm Áo Vải Chân Trần Qua Những Chiến Dịch Lịch Sử
Nằm trong thế hệ những người lính đầu tiên nghe theo Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, câu chuyện của cựu chiến binh Ngũ Xuân Đài (sinh năm 1925) đưa chúng ta trở về với thuở bình minh đầy gian khổ nhưng ngập tràn khí thế độc lập của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Nhập ngũ năm 1946 khi vừa bước sang tuổi 21 phơi phới sức trẻ và xuất ngũ năm 1958 sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, 12 năm quân ngũ của ông Đài là cả một chặng đường dài "chân trần chí thép" xuyên qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vĩ đại, đỉnh cao là trận quyết chiến chiến lược tại lòng chảo Điện Biên Phủ năm 1954.
12 Năm Áo Vải Chân Trần Qua Những Chiến Dịch Lịch Sử
Năm 1946, khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của non sông, chàng thanh niên Ngũ Xuân Đài đã gác lại quê nhà để gia nhập vào lực lượng Vệ quốc đoàn. Hành trang của người lính ngày ấy vô cùng thô sơ: chiếc mũ nan bọc lưới, manh áo trấn thủ sờn vai và đôi dép cao su cắt vội từ lốp xe hỏng. Vũ khí gậy gộc, súng kíp thô sơ cướp được của giặc để đánh giặc.
Suốt những năm tháng từ năm 1946 đến 1954, bước chân của ông Đài đã in dấu qua khắp các chiến trường Tây Bắc, Đông Bắc, tham gia vào những chiến dịch lớn chống càn quét dữ dội của địch. Kẻ thù của ông và đồng đội ngày ấy không chỉ là những lô cốt kiên cố, hỏa lực mạnh của giặc Pháp, mà còn là cái đói quay quắt, những cơn sốt rét rừng ngã nước ác tính nơi rừng sâu nước độc và những đêm sương muối lạnh thấu xương của núi rừng Việt Bắc.
"Ngày đó thiếu thốn đủ đường, cơm ăn có khi chỉ là nắm cơm vắt chấm muối che vội dưới hào tiền tiêu, manh áo vải không đủ ấm giữa đêm đông. Nhưng không một ai kêu ca hay lùi bước, bởi chúng tôi có hơi ấm của tình đồng chí, có cái nắm tay siết chặt truyền sức mạnh cho nhau trước giờ nổ súng." – Ông Đài bùi ngùi nhớ lại.
Kỷ Niệm Sẻ Chia Hớp Nước Cứu Mạng Nơi Chiến Hào Điện Biên 1954
Trong suốt 12 năm nằm gai nếm mật, kỷ niệm đáng nhớ và xúc động nhất trong cuộc đời của cựu chiến binh Ngũ Xuân Đài gắn liền với những ngày đêm "máu trộn bùn non" tại chiến dịch Điện Biên Phủ vào mùa xuân năm 1954. Khi đó, đơn vị của ông nhận nhiệm vụ đào hầm ngầm, vây lấn và chốt giữ một cao điểm phòng ngự kiên cố của địch.
Giữa cái nắng hầm hập của miền Tây Bắc, xung quanh là tiếng pháo nổ chát chúa cày xới nát vụn từng tấc đất, ổ đề kháng của ông Đài bị hỏa lực địch bắn chặn dữ dội, cắt đứt hoàn toàn đường tiếp tế nhu yếu phẩm từ tuyến sau suốt hai ngày liền. Dưới căn hầm ngột ngạt khét lẹt mùi thuốc súng, cái khát như thiêu như đốt từng khúc ruột. Môi ai cũng nứt nẻ rỉ máu, cổ họng khô khốc đến mức không nói nên lời.
Lúc bấy giờ, ông Đài cùng người đồng đội thân thiết tên Nghĩa được phân công chốt giữ khẩu súng trường bên mép hào tiền tiêu. Giữa lúc tưởng chừng như kiệt sức, ông Nghĩa bất ngờ phát hiện ở đáy một chiếc đông-gô (bình tông) cũ còn sót lại vài giọt nước mưa đọng lại từ đêm hôm trước, chỉ vừa vẹn một ngụm nhỏ.
Giọt nước lúc ấy quý hơn cả dòng máu trong tim, là ranh giới của sự sống. Ông Nghĩa cẩn thận đỡ chiếc bình tông đưa đến trước mặt ông Đài, thầm thì: "Đài, cậu uống đi để lấy sức mà ghìm báng súng, mắt cậu đỏ ngầu lên vì mệt rồi kìa!". Nhìn người bạn chiến đấu môi cũng đang khô khốc, da mặt xạm đen vì khói súng, ông Đài gạt đi: "Không, cậu là xạ thủ chủ lực, cậu cần tỉnh táo để bắn tỉa, cậu uống đi!".
Đẩy qua gạt lại vài lần dưới làn đạn rít, không ai chịu uống giọt nước cứu mạng ấy một mình. Cuối cùng, ông Nghĩa mỉm cười hiền hậu, nhấp một ngụm nhỏ chỉ đủ ướt môi rồi ép ông Đài uống phần còn lại. Ngay sau đó, địch lại tổ chức một đợt phản kích điên cuồng bò lên chốt. Chính nhờ ngụm nước nghĩa tình và ý chí sắt đá được tiếp thêm từ người đồng đội, ông Đài và ông Nghĩa đã sát cánh bên nhau, kiên cường nổ súng đánh bật đợt tiến công của địch, giữ vững trận địa cho đến khi vòng vây được phá vỡ, quân ta tiếp viện được lương thực lên cao điểm.
Giữ Vẹn Phẩm Chất Người Lính Tiền Phong Giữa Đời Thường
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng chấn động địa cầu, ông Ngũ Xuân Đài cùng đơn vị tiếp tục tham gia tiếp quản thủ đô và phục vụ trong lực lượng quân đội tham gia khôi phục, kiến thiết miền Bắc sau chiến tranh. Đến năm 1958, sau 12 năm dâng hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân rực rỡ nhất nơi tuyến đầu, người chiến sĩ Điện Biên năm xưa nhận quyết định xuất ngũ trở về quê hương.
Bước ra khỏi cuộc chiến tranh khi tuổi đời đã ngoài ba mươi, mang trên mình những vết sẹo của bom đạn và những chứng bệnh mỗi khi trái gió trở trời lại đau nhức nhối, ông Đài lại bước vào một mặt trận mới: tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế gia đình và kiến thiết quê nhà trong thời kỳ hòa bình. Ý chí và bản lĩnh của người lính "chân trần chí thép" được tôi luyện qua gian khổ đã giúp ông đứng vững trước những vất vả, thiếu thốn của cuộc sống, nuôi dạy con cháu trưởng thành và luôn sống gương mẫu tại địa phương.
Đối với ông Ngũ Xuân Đài, quãng thời gian từ năm 1946 đến 1958 là cả một thời tuổi trẻ kiêu hãnh và vinh quang vô hạn. Câu chuyện về hớp nước nghĩa tình dưới chiến hào Điện Biên năm xưa vẫn luôn vẹn nguyên trong ký ức, như một bài ca bất tử về tình đồng chí son sắt, thủy chung của những người lính Bộ đội Cụ Hồ thuở ban đầu lập nước



