122. Tiểu sử AHLLVTNH NGUYỄN VĂN KHẠ
Tiểu sử AHLLVTNH NGUYỄN VĂN KHẠ
Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân miền Nam là một chuỗi những trang sử đầy bi tráng, nơi tinh thần tự lực cánh sinh và lòng quả cảm được đẩy lên đến đỉnh cao. Trên mảnh đất Củ Chi kiên cường, từ thuở cách mạng còn trong trứng nước, tên tuổi của Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Khạ (còn gọi thân thương là Cò Khạ) đã trở thành một huyền thoại bất tử — một biểu tượng sáng ngời cho trí tuệ dân gian trong quân sự, khí tiết kiên trung bất khuất trước họng súng quân thù.Người lĩnh xướng Quốc vệ đội thời kỳ cách mạng non trẻAnh hùng Nguyễn Văn Khạ sinh năm 1918 trong một gia đình trung nông tại ấp Phú Thuận, xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi. Mùa thu lịch sử năm 1945, ở tuổi 27 sục sôi nhiệt huyết, sau khi hòa mình vào dòng người biểu tình cướp chính quyền thắng lợi ở Sài Gòn trở về, ông được tin tưởng chỉ định làm Trưởng Quốc gia tự vệ của xã Phú Hòa Đông.Trong những ngày đầu thành lập chính quyền cách mạng lâm thời đầy cam go, nhờ sự đồng lòng, sát cánh của các đồng chí trung kiên, Cò Khạ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phát triển lực lượng dân quân, giữ vững an ninh trật tự và chuẩn bị thế trận cho cuộc trường kỳ kháng chiến. Khi giặc Pháp quay lại chiếm đóng Phú Hòa Đông, ông cùng các chiến sĩ dứt khoát rút vào bưng biền hoạt động, đảm nhận trọng trách phụng sự Quốc vệ đội kiêm Trưởng ban phá hoại Khu V (gồm 4 xã liên hoàn: An Nhơn Tây, Phú Mỹ Hưng, Nhuận Đức, Phú Hòa Đông). Dưới sự chỉ huy mưu trí của ông, các đồn bốt địch liên tục bị đánh phá, khiến quân Pháp ăn không ngon, ngủ không yên mỗi khi nghe danh “Cò Khạ”.Huyền thoại “Trận binh la” và tinh thần dám nghĩ, dám làmTrong chuỗi chiến công vang dội của Nguyễn Văn Khạ, trận tấn công đồn Thầy Biên (đồn Tây) bằng chiến thuật “đạo binh la” đã đi vào biên niên sử cách mạng địa phương như một sáng kiến quân sự độc nhất vô nhị. Vận dụng mưu lược nội công ngoại kích, ông đã khéo léo giác ngộ được Đội Dễ trong đồn làm nội ứng.Để áp đảo tinh thần giặc, Cò Khạ huy động toàn bộ lực lượng gồm khoảng 600 thanh niên địa phương tập kết tại trại ruộng Hào Quý bên sông Sài Gòn. Biến những vật dụng sinh hoạt bình dị thành vũ khí chiến lược, ông phân công các mũi tiến công dùng 25 chiếc xe bò chất đầy rơm vừa làm tấm khiên chắn đạn di động, vừa làm bổi đốt đồn; sử dụng các ống tre phục mắt làm ống lói tạo tiếng nổ giả tiếng súng lớn, cùng những bành mũ cao su để đỡ đạn. Khi hiệu lệnh vừa phát, hàng trăm con người đồng loạt nổi trống, gõ mõ vang trời cùng tiếng hô “Tiến lên!” đanh thép, tạo nên một trận cuồng phong bão táp rúng động cả vùng Phú Hòa Đông.Dù giờ chót các cánh quân phối hợp không kịp đến viện trợ khiến trận đánh chưa thể tiêu diệt hoàn toàn đồn giặc, song “trận binh la” đã tạo nên một cuộc diễn tập biểu dương lực lượng quần chúng vô tiền khoáng hậu, khiến quân Pháp hoảng sợ co cụm suốt nhiều tuần. Chiến thuật táo bạo này đã vinh dự nhận được bức thư khen ngợi từ Trung tướng Nguyễn Bình: “Trận đánh táo bạo, dám nghĩ dám làm, biết sử dụng nhân dân áp đảo và nội công ngoại kích”. Không dừng lại ở đó, với công cụ chỉ vỏn vẹn là những chiếc xà beng thô sơ, Cò Khạ đã dựa vào sức mạnh và lòng quyết tâm của nhân dân để nhiều lần đánh sập cầu sắt Bến Nẩy, cắt đứt long mạch tiếp tế và giao thông của thực dân Pháp.Khí tiết kiên trung và lời tuyên ngôn bất tử giữa pháp trườngTháng 7 năm 1947 (âm lịch), trong một chuyến công tác từ An Nhơn Tây đến Nhơn Hòa, Cò Khạ cùng hai đồng đội không may sa vào ổ phục kích của địch tại cầu cá Lăng Ông. Biết rõ uy danh lẫy lừng của ông, kẻ thù từ dùng tiền tài, địa vị béo bở để dụ dỗ hòng làm lung lạc ý chí cách mạng của nhân dân, đến dùng những cực hình tra tấn man rợ nhất: tra điện, đổ nước xà phòng pha phân người, dùng giày đinh đạp hộc máu, treo ngược lên trần nhà... nhưng đều thất bại trước ý chí sắt đá của ông. Ngay cả khi chúng hèn hạ đưa vợ con ông đến để khơi gợi tình cốt nhục, ông vẫn kiên quyết vạch trần thủ đoạn đê hèn của giặc và giục vợ mang con về nuôi dạy thành người.Ngày 8/9/1947, biết giặc chuẩn bị sát hại mình, ông mưu trí giả vờ đồng ý quy hàng để xin được nói chuyện với nhân dân tại chợ Phú Hòa Đông. Tưởng đã khuất phục được người anh hùng, chúng dựng bục cao, lùa đồng bào đến nghe. Nhưng ngay khi đứng trước quốc dân đồng bào, Cò Khạ đã dõng dạc hô vang lời tuyên ngôn đanh thép, làm nức lòng nhân dân và khiến quân thù run sợ:“Thưa đồng bào! Cò Khạ này không bao giờ đầu hàng giặc đâu. Cò Khạ này chết, sẽ có hàng ngàn Cò Khạ khác đứng lên! Hồ Chí Minh muôn năm! Đả đảo...”Lời hô chưa dứt, giặc điên cuồng kéo ông xuống và đưa vào hầm biệt giam. Đêm hôm sau, ngày 9/9/1947, chúng bí mật áp giải và bắn chết ông tại dốc Bàu Trâm (xã Tân Trung), xô xác xuống giếng sâu. Người anh hùng đã ngã xuống ở tuổi 29 đầy rực rỡ, để lại niềm tiếc thương vô hạn và ngọn lửa căm thù sục sôi trong lòng đất thép.Di sản trường tồn và ngọn đuốc soi đường cho thế hệ trẻGhi nhận công lao trời biển và sự hy sinh kiên trung vô song, ngày 29 tháng 1 năm 1996, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã trang trọng ký quyết định truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân cho liệt sĩ Nguyễn Văn Khạ. Tên của ông cũng đã được đặt thay cho Hương lộ 1 khang trang, dài hơn 10km nối liền từ Quốc lộ 22 đến Tỉnh lộ 15, trường tồn cùng dòng chảy phát triển của quê hương Củ Chi.Chiến tranh đã lùi xa, dốc Bàu Trâm năm xưa giờ đã rợp bóng cây xanh thanh bình. Đứng trước tượng đài kiên trung của Anh hùng Nguyễn Văn Khạ, thế hệ trẻ đoàn viên, thanh niên hôm nay dâng trào lòng tự hào và biết ơn sâu sắc. Câu chuyện về một “Cò Khạ” dám nghĩ, dám làm, lấy lòng dân làm gốc và thà chết không chịu cúi đầu chính là bài học giáo dục chủ nghĩa yêu nước sâu sắc nhất. Tiếp nối sợi chỉ đỏ truyền thống của cha anh, tuổi trẻ hôm nay nguyện nỗ lực hết mình trong học tập, lao động, gương mẫu chấp hành mọi chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước, quyết tâm cống hiến trí tuệ và nghị lực để xây dựng quê hương Củ Chi ngày càng giàu đẹp, văn minh và vững mạnh.


