12A14 PHÂN HIỆU THPT BỈM SƠN
Phan Bội Châu - Người đốt lên ngọn lửa Đông Du
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu là một cái tên sáng chói, là người đã thức tỉnh cả một thế hệ thanh niên trong đêm dài nô lệ. Ông được mệnh danh là nhà yêu nước lớn, nhà cách mạng tiên phong, người mở đường cho phong trào cách mạng hiện đại.
Phan Bội Châu, hiệu là Sào Nam, sinh năm 1867 tại làng Đan Nhiễm, xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An - một vùng đất địa linh nhân kiệt. Ngay từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, học giỏi. Năm 17 tuổi đã đậu đầu xứ, nhưng con đường khoa cử không làm ông màng danh lợi. Chứng kiến cảnh nước mất, dân ta sống trong lầm than dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, với chính sách ngu dân, vơ vét tài nguyên, sưu cao thuế nặng, lòng yêu nước trong ông ngày càng sục sôi.
Năm 1900, ông đỗ Giải nguyên ở trường thi Nghệ An, nhưng ông xác định con đường cứu nước không phải bằng văn chương mà phải bằng hành động. Năm 1904, ông cùng với các đồng chí như Tăng Bạt Hổ, Đặng Thái Thân lập ra Duy Tân Hội, chủ trương dùng vũ lực đánh đổ Pháp để lập ra một nước Việt Nam độc lập, với Cường Để làm minh chủ.
Nhận thấy Nhật Bản sau cuộc Duy Tân Minh Trị đã trở thành một cường quốc ở châu Á, đánh thắng cả Nga, Phan Bội Châu nảy ra một ý tưởng táo bạo: Đưa thanh niên Việt Nam sang Nhật học tập để sau này về cứu nước. Đó chính là phong trào Đông Du nổi tiếng.
Năm 1905, ông sang Nhật Bản, cầu viện và vận động. Với tài hùng biện và lòng yêu nước chân thành, ông đã được nhiều nhà yêu nước Nhật như Khuyển Dưỡng Nghị, Đại Ôi Trọng Tín giúp đỡ. Chỉ trong vài năm, phong trào Đông Du đã đưa được hàng trăm thanh niên Việt Nam sang Nhật học quân sự, chính trị, khoa học. Trong số đó có nhiều người sau này trở thành những nhà cách mạng nổi tiếng. Phong trào Đông Du đã gieo vào lòng tuổi trẻ Việt Nam tư tưởng tiến bộ, tinh thần tự cường dân tộc.
Thực dân Pháp lo sợ, đã cấu kết với Nhật trục xuất Phan Bội Châu và du học sinh Việt Nam. Phong trào Đông Du tan rã năm 1909, nhưng tiếng vang của nó vô cùng lớn. Nó đã làm thức tỉnh lòng yêu nước trong nhân dân.Không nản chí, Phan Bội Châu sang Trung Quốc. Năm 1912, ông thành lập Việt Nam Quang Phục Hội, chủ trương bạo động, ám sát những tên thực dân đầu sỏ và tay sai bán nước. Hội đã cử người về nước ám sát tên toàn quyền, tên tuần phủ Thái Bình, gây tiếng vang lớn.
Cuộc đời hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu đầy gian khổ, bôn ba khắp các nước như Nhật, Trung Quốc, Xiêm. Ông sống trong cảnh thiếu thốn, tù đày. Năm 1925, do sự phản bội của Nguyễn Thượng Huyền, ông bị thực dân Pháp bắt cóc tại Thượng Hải và đưa về nước xử án.
Phiên tòa xử Phan Bội Châu tại Hà Nội đã biến thành một cuộc biểu tình của lòng yêu nước. Nhân dân cả nước, đặc biệt là thanh niên, học sinh đã xuống đường đòi thả ông. Trước sức ép của quần chúng, thực dân Pháp buộc phải đổi án tử hình thành án giam lỏng tại Huế.
Từ năm 1925 đến khi mất năm 1940, ông sống an trí tại Bến Ngự, Huế trong cảnh nghèo nàn nhưng thanh bạch. Dù bị giam lỏng, ngôi nhà của ông vẫn là nơi hội tụ của các nhà yêu nước, các tầng lớp thanh niên đến để học hỏi tinh thần yêu nước.
Phan Bội Châu qua đời ngày 29 tháng 10 năm 1940, để lại một di sản văn học yêu nước đồ sộ với các tác phẩm như "Việt Nam vong quốc sử", "Ngục trung thư", "Trùng Quang tâm sử".
Cuộc đời ông là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường không khuất phục trước kẻ thù. Ông là người đã nối tiếp truyền thống yêu nước của cha ông và mở đường cho con đường cách mạng mới của dân tộc.



