13. Câu chuyện về Vua Duy Tân
Câu chuyện về Vua Duy Tân
Thân thế và tuổi thơ hoàng tộc
Vua Duy Tân tên húy là Nguyễn Phúc Vĩnh San (阮福永珊), khi lên ngôi đổi thành Nguyễn Phúc Hoảng (阮福晃). Ông sinh ngày 19 tháng 9 năm 1900 (nhằm ngày 26 tháng 8 năm Canh Tý) tại kinh thành Huế, là người con trai thứ tám của vua Thành Thái và bà Hoàng phi Nguyễn Thị Định. Ông không có miếu hiệu và là vị hoàng đế thứ 11 của triều đại nhà Nguyễn.
Sự nghiệp vương quyền của vị hoàng tử nhỏ tuổi bắt đầu từ một tình huống hết sức đặc biệt. Sau khi vua Thành Thái bị thực dân Pháp truất ngôi và lưu đày, chính quyền bảo hộ muốn lựa chọn một người kế vị nhỏ tuổi để dễ bề thao túng, thay vì lập hoàng tử trưởng theo thông lệ. Khi Khâm sứ Fernand Ernest Lévecque vào hoàng cung điểm danh các hoàng tử, Vĩnh San lúc ấy đang mải mê trốn dưới gầm giường tìm con dế vừa xổng nên mặt mũi lấm lem cát bụi. Vì sợ bị quở trách, người lính tìm thấy ông đã đưa thẳng hoàng tử ra trình diện quan Pháp mà không kịp tắm rửa. Trông thấy dáng vẻ lem luốc ấy, người Pháp lầm tưởng Vĩnh San là đứa trẻ nhút nhát, đần độn nên lập tức chấp thuận. Để hợp thức hóa, triều đình đã xin tăng thêm cho ông một tuổi thành tám. Hoàng tử Vĩnh San chính thức lên ngôi vào ngày 5 tháng 9 năm 1907, lấy niên hiệu là Duy Tân – với ngụ ý hướng đến sự nghiệp đổi mới đất nước còn dang dở của vua cha.
Khí tiết bất khuất chốn hoàng cung
Tuy nhiên, người Pháp đã hoàn toàn lầm tưởng về vị vua thiếu niên này. Ngay sau lễ đăng cơ, một nhà báo Pháp đã phải kinh ngạc thốt lên: "Một ngày lên ngai vàng đã thay đổi hoàn toàn bộ mặt của cậu bé lên tám". Để kiềm tỏa nhà vua, thực dân Pháp thiết lập Hội đồng Phụ chính gồm sáu đại thần cốt cán: Tôn Thất Hân, Nguyễn Hữu Bài, Huỳnh Côn, Miên Lịch, Lê Trinh và Cao Xuân Dục, đặt dưới sự điều khiển trực tiếp của Tòa Khâm sứ. Họ cũng cử một tiến sĩ sinh học tên là Ebérhard đến dạy học cho vua, nhưng thực chất là để giám sát mọi hành tung của ông.
Càng trưởng thành, vua Duy Tân càng bộc lộ rõ tinh thần yêu nước và thái độ bất hợp tác với chính quyền thực dân. Khoảng năm 1912, Khâm sứ Georges Marie Joseph Mahé mở chiến dịch tìm vàng tàn bạo, cho hạ tượng vàng trên tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ, đào xới lăng vua Tự Đức và Đại Nội. Trước hành động thô bạo đó, vua Duy Tân phản đối quyết liệt bằng cách đóng cửa cung, kiên quyết tuyệt giao với các nhà đương cục ở Huế. Sự việc căng thẳng đến mức Toàn quyền Albert Pierre Sarraut phải từ Hà Nội vào hòa giải, nhà vua mới chịu mở lại Hoàng thành.
Năm 13 tuổi, sau khi tự mình nghiên cứu lại các hiệp ước Việt - Pháp, nhà vua nhận thấy triều đình bảo hộ thi hành không đúng cam kết. Ông thẳng thắn đề nghị cử Thượng thư Nguyễn Hữu Bài sang Pháp đòi duyệt lại Hiệp ước Patenôtre (1884), nhưng cả triều đình bấy giờ không một ai dám nhận trọng trách. Đến năm 15 tuổi, nhà vua triệu tập sáu đại thần Phụ chính, ép buộc họ phải ký vào biên bản duyệt hiệp ước để đích thân ông cầm sang Tòa Khâm sứ. Sợ người Pháp trả thù, các đại thần đã từ chối ký và phải cầu cứu Thái hậu can gián. Sự việc này khiến vị vua trẻ nuôi lòng ác cảm sâu sắc không chỉ với thực dân Pháp mà với cả triều đình nhu nhược.
Mưu sự cứu nước cùng Việt Nam Quang phục Hội
Biết được tấm lòng sục sôi yêu nước của vua Duy Tân, các lãnh tụ của Việt Nam Quang phục Hội (tổ chức do Phan Bội Châu thành lập năm 1912) đã tìm cách tiếp cận. Hai nhà lãnh đạo của hội là Trần Cao Vân và Thái Phiên đã vận động người tài xế riêng của vua xin nghỉ việc, thế chỗ bằng Phạm Hữu Khánh – một thành viên mật của hội.
Tháng 4 năm 1916, nhân dịp vua Duy Tân ra nghỉ mát tại bãi tắm Cửa Tùng, Phạm Hữu Khánh đã bí mật chuyển cho vua bức thư của Trần Cao Vân và Thái Phiên. Thấu hiểu đại cuộc, ngay ngày hôm sau, nhà vua đã gặp gỡ hai ông trong một buổi câu cá tại Hậu hồ và đồng ý tham gia khởi nghĩa, ấn định thời gian hành động vào lúc 1 giờ sáng ngày 3 tháng 3 năm 1916.
Tuy nhiên, cơ mưu đại sự bất ngờ bị bại lộ do một thành viên ở Quảng Ngãi là Võ An làm lộ tin tức. Chiều ngày 2 tháng 5, Công sứ Pháp de Taste đánh mật điện cho Khâm sứ Trung Kỳ Charles. Quân Pháp lập tức tịch thu toàn bộ vũ khí của lính Việt cất vào kho và ban lệnh cấm trại nghiêm ngặt.
Đêm hôm đó, Trần Cao Vân và Thái Phiên vẫn chèo thuyền đến bến Thương Bạc đón vua Duy Tân. Nhà vua cải trang thành thường dân, cùng hai cận vệ thân tín là Tôn Thất Đề và Nguyễn Quang Siêu đến làng Hà Trung để chờ tiếng súng thần công từ kinh thành phát lệnh. Chờ đợi đến 3 giờ sáng vẫn không có động tĩnh, biết đại sự đã thành không, hai vị lãnh tụ định đưa vua lánh vào vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi nhưng đến sáng ngày 6 tháng 5 năm 1916, cả nhóm đã bị bắt giữ.
Khi bị Khâm sứ Charles và Toàn quyền Pháp thuyết phục trở lại ngai vàng với điều kiện phục tùng, vua Duy Tân đã thẳng thắn khước từ bằng lời tuyên bố đanh thép: "Các ngài muốn bắt buộc tôi phải làm vua nước Nam, thì hãy coi tôi như là một ông vua đã trưởng thành và có quyền tự do hành động, nhất là quyền tự do trao đổi tin tức và ý kiến với chính phủ Pháp".
Trước sự kiên quyết của nhà vua, người Pháp ép triều đình Huế lập hội đồng xét xử do Hoàng Quảng Phu, Võ Liêm và Tôn Thất Uyển đứng đầu. Để giảm nhẹ trách nhiệm cho nhà vua và giữ thể diện cho vương triều, bản án kết luận "hoàng thượng nhỏ tuổi" bị kẻ xấu "xúi giục, trộm lấy chiếu văn". Trái lại, bốn chiến sĩ yêu nước gồm Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề và Nguyễn Quang Siêu cùng 14 người khác bị kết án chém đầu tại An Hòa. Riêng vua Duy Tân bị khép án lưu đày biệt xứ.
Những năm tháng lưu đày và lý tưởng quốc gia
Ngày 3 tháng 11 năm 1916, cựu hoàng Duy Tân cùng gia đình vua cha Thành Thái bước lên tàu Guadiana tại Cap Saint-Jacques (Vũng Tàu), chính thức bắt đầu cuộc đời lưu đày. Ngày 20 tháng 11, họ đặt chân đến bến Pointe de Galets trên đảo La Réunion (Ấn Độ Dương). Tại đây, ông khước từ căn biệt thự sang trọng do Pháp cấp và chọn sống trong một ngôi nhà thuê giản dị tại thành phố Saint-Denis, ăn mặc và sinh hoạt như một người dân bản xứ bình thường.
Do bất đồng tính tình với vua cha, ông quyết định sống tự lập. Ông ghi tên học ngành vô tuyến điện, mở tiệm sửa chữa và bán máy mang tên Radio - Laboratoire để mưu sinh. Song song đó, ông tự học, thi đỗ tú tài tại trường Trung học Leconte de Lisle và nghiên cứu sâu về luật học cũng như ngoại ngữ. Cựu hoàng có lối sống rất thanh cao, ông tham gia hội yêu nhạc, học cưỡi ngựa và từng giành chiến thắng tại nhiều cuộc đua. Dưới bút danh Georges Dry, ông viết nhiều bài luận và thơ đăng trên các tờ báo Le Peuple và Le Progrès. Tác phẩm "Những biến tấu của một cây đàn lia gãy vỡ" của ông đã vinh dự đạt giải nhất văn chương của Viện Hàn lâm Khoa học và Văn chương La Réunion vào năm 1924.
Trong suốt giai đoạn từ năm 1936 đến 1940, ông liên tục gửi đơn xin gia nhập quân đội Pháp để được rời đảo, song Bộ Thuộc địa Pháp luôn bác bỏ vì lời phê trong lý lịch: "Có vẻ khó mua chuộc, rất độc lập, mưu đồ rời khỏi đảo La Réunion để tái lập ngôi báu ở An Nam".
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, chứng kiến nước Pháp bại trận trước phát xít Đức, cựu hoàng Duy Tân xem Tướng Charles de Gaulle – người đứng đầu lực lượng Kháng chiến Pháp tự do – là hình mẫu lý tưởng cho sự nghiệp cứu nước của mình. Ông bí mật dùng đài vô tuyến để thu thập và chuyển giao thông tin cho lực lượng Đồng Minh. Việc bại lộ khiến ông bị chính quyền đảo La Réunion (lúc bấy giờ thuộc chính phủ bù nhìn Vichy) giam giữ sáu tuần. Sau khi đảo được giải phóng, ông tham gia lực lượng kháng chiến với cấp bậc hạ sĩ vô tuyến, rồi nhờ Thống đốc A. Capagory can thiệp để được vào bộ binh với cấp binh nhì, sau đó thăng dần lên Chuẩn úy và sang chiến đấu tại chiến trường châu Âu.
Tháng 6 năm 1945, ông được điều về Phòng Quân sự của Tướng de Gaulle tại Paris và tiếp tục phục vụ tại Bộ Tham mưu Sư đoàn 9 Bộ binh Thuộc địa đóng tại Đức. Ngày 29 tháng 10 năm 1945, Tướng de Gaulle ký sắc lệnh hợp thức hóa các cấp bậc của ông trong quân đội Pháp, đưa ông lên hàm Thiếu tá. Tuy nhiên, giới quan sát nhận định người Pháp chỉ đang muốn biến ông thành một quân bài chính trị trong kế hoạch tái chiếm Đông Dương. Bản thân cựu hoàng cũng nuôi hy vọng có thể thông qua nước Pháp để lập lại một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và tạm thời ủy thác các mảng Ngoại giao, Quốc phòng cho Pháp.
Ngày 14 tháng 12 năm 1945, Tướng Charles de Gaulle chính thức tiếp cựu hoàng Duy Tân. Trong hồi ký của mình, de Gaulle ghi nhận: "Đó là một nhân vật đầy cương nghị. Mặc dù bị lưu đày ròng rã 30 năm trời, hình ảnh của ông không hề phai mờ trong tâm hồn của dân tộc Việt Nam". Hai bên đã đạt được những thỏa thuận ban đầu về việc đưa ông trở lại ngai vàng vào đầu tháng 3 năm 1946. Trở về quê hương luôn là nỗi đau đáu khôn nguôi trong lòng cựu hoàng, như ông từng tâm sự: "Điều mà tôi mong muốn là tất cả các con dân Việt Nam ý thức được rằng họ là một quốc gia... Nghĩa hợp quần ấy được thực hiện dưới bất cứ chế độ nào: cộng sản, xã hội chủ nghĩa, bảo hoàng hay quân chủ, điều đó không quan trọng, điều quan trọng là phải cứu dân tộc Việt Nam khỏi cái họa phân chia".
Vụ tai nạn máy bay định mệnh
Thế nhưng, chuyến hồi hương định mệnh ấy đã mãi mãi không bao giờ diễn ra. Ngày 24 tháng 12 năm 1945, Thiếu tá Nguyễn Phúc Vĩnh San lên chiếc phi cơ Lockheed C-60 của Pháp cất cánh từ Paris để bay về đảo La Réunion thăm gia đình trước khi gánh vác sứ mệnh mới. Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 26 tháng 12 năm 1945, chiếc máy bay bất ngờ gặp nạn và rơi gần làng Bassako, thuộc phân khu M'Baiki, Cộng hòa Trung Phi. Toàn bộ phi hành đoàn cùng hành khách, trong đó có cựu hoàng Duy Tân, đều tử nạn khi ông vừa tròn 45 tuổi.
Phải đến hơn 40 năm sau, ngày 28 tháng 3 năm 1987, hài cốt của vua Duy Tân mới được gia đình bốc dỡ từ Trung Phi đưa về Paris làm lễ cầu siêu tại Viện Quốc tế Phật học Vincennes. Đến ngày 6 tháng 4 năm 1987, di hài của ông chính thức được đưa về nước và an táng trọng thể tại An Lăng (Huế), nằm cạnh lăng mộ của vua cha Thành Thái, khép lại cuộc đời truân chuyên của một bậc quân vương yêu nước.
Những giai thoại lưu danh sử sách
Cuộc đời vua Duy Tân gắn liền với những câu chuyện biểu hiện cho ý chí sắt đá và trí tuệ mẫn tiệp ngay từ khi còn rất trẻ. Một lần, khi từ bãi tắm Cửa Tùng bước lên, tay chân dính đầy cát, nhà vua thiếu niên vừa rửa tay trong chậu nước do thị vệ bưng vừa hỏi: "Khi tay dơ thì lấy nước mà rửa, khi nước bẩn thì lấy chi mà rửa?". Thấy người thị vệ lúng túng chưa biết đáp sao, vua Duy Tân liền dõng dạc nói: "Nước dơ thì phải lấy máu mà rửa, hiểu không?".
Một lần khác, khi cùng Thượng thư Nguyễn Hữu Bài ngồi câu cá trước bến Phu Văn Lâu, ngồi mãi không thấy cá cắn câu, vị hoàng đế trẻ bèn ứng tác vế đối đầy ẩn ý: "Ngồi trên nước không ngăn được nước, trót buông câu nên lỡ phải lần". Thượng thư Nguyễn Hữu Bài suy nghĩ hồi lâu rồi đối lại: "Nghĩ việc đời mà ngán cho đời, đành nhắm mắt đến đâu hay đó". Nghe xong, vua Duy Tân không giấu được vẻ thất vọng trước sự cam chịu số phận của vị đại thần và thẳng thắn bảo: "Theo ý trẫm, sống như thế buồn lắm. Phải có ý chí vượt gian khó thì cuộc sống mới có ý nghĩa!".
Gia quyến và hậu duệ
Về đời sống riêng tư, trước khi đi đày, vua Duy Tân kết hôn cùng Diệu phi Mai Thị Vàng vào ngày 16 tháng 1 năm 1916. Khi theo chồng sang đảo La Réunion, bà mang thai 3 tháng nhưng không may bị sẩy thai và không chịu được khí hậu nơi đây nên sau 2 năm đã xin về nước. Năm 1925, cựu hoàng gửi thư kèm đơn ly hôn về Hội đồng Hoàng tộc để bà đi bước nữa khi mới 27 tuổi, song bà Vàng trọn đời thủ tiết để giữ trọn lời thề thủy chung với đấng quân vương.
Trong thời gian định cư tại đảo La Réunion, do Hoàng phi Mai Thị Vàng từ chối ly hôn, cựu hoàng lần lượt chung sống ngoài giá thú với ba người phụ nữ gốc châu Âu là bà Marie Anne Viale (sinh cho ông người con trai Armand Viale vào năm 1919), bà Fernande Antier (kết hôn năm 1928, sinh được 8 người con, trong đó có các hoàng tử: Guy Georges Vĩnh San tức Bảo Ngọc, Yves Claude Vĩnh San tức Bảo Vàng, Joseph Roger Vĩnh San tức Bảo Quý) và bà Ernestine Yvette Maillot (sinh được con gái Andrée Maillot vào năm 1945). Ban đầu, các con của ông đều mang họ mẹ và theo Công giáo, họ không biết tiếng Việt do cựu hoàng không khuyến khích tìm hiểu về cội nguồn để tránh tai mắt chính trị. Đến năm 1946, tòa án Saint-Denis mới chính thức công nhận cho các con ông được mang họ Vĩnh San của cha.
Hiện nay, các hậu duệ của vua Duy Tân vẫn luôn hướng về nguồn cội. Hoàng tử Bảo Vàng chính là người đã có công lao lớn trong việc đưa di hài cha về Việt Nam năm 1987 và cùng Hoàng tử Bảo Thắng lãnh đạo Đại Nam Long tinh Viện để thực hiện các hoạt động nhân đạo, văn hóa. Trong khi đó, Hoàng tử Bảo Quý (Joseph Roger Vĩnh San) hiện đang có một cuộc sống bình dị cùng vợ tại thành phố biển Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.



