Bài viết

17. Đại tướng Hoàng Văn Thái – Giữ thế chủ động từ Campuchia đến Chiến dịch Nguyễn Huệ

Sau Mậu Thân, Hoàng Văn Thái cùng Bộ Chỉ huy Miền tổ chức nhiều chiến dịch lớn, đánh bại các cuộc hành quân của đối phương và tạo ra vùng giải phóng quan trọng tại Đông Nam Bộ.

Hưng Yên14/08/2026Đoàn Phường 2 - Bảo Lộc (Phường 2 - Bảo Lộc)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau Tổng tiến công Tết Mậu Thân, chiến trường miền Nam bước vào giai đoạn khó khăn. Mỹ triển khai chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, từng bước rút quân nhưng tăng cường vũ khí, phương tiện và khả năng tác chiến cho quân đội Sài Gòn. Đồng thời, đối phương mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào nhằm phá căn cứ, cắt đường chi viện của cách mạng.

Trên cương vị Tư lệnh Miền, Hoàng Văn Thái cùng Trung ương Cục và Quân ủy Miền phải giải quyết đồng thời nhiều nhiệm vụ: khôi phục lực lượng sau tổn thất, giữ cơ sở trong dân, bảo vệ căn cứ và chuẩn bị khả năng mở những chiến dịch quy mô lớn. Ông đặc biệt coi trọng việc nắm địch, bởi lực lượng Sài Gòn ngày càng được Mỹ giao vai trò chủ động trên bộ.

Trong năm 1971, quân đội Sài Gòn mở những cuộc hành quân lớn sang Campuchia với các kế hoạch như Toàn Thắng và Chenla, nhằm đánh phá căn cứ, kiểm soát đường giao thông và hỗ trợ chính quyền Phnom Penh. Bộ Chỉ huy Miền phối hợp với lực lượng cách mạng Campuchia tổ chức phản công, tận dụng việc đội hình đối phương kéo dài và phụ thuộc vào các tuyến đường tiếp tế.

Các chiến dịch Chenla I và Chenla II gây cho đối phương nhiều tổn thất, phá vỡ ý đồ mở rộng kiểm soát. Thành công cho thấy lực lượng cách mạng có thể tổ chức tác chiến trên một không gian rộng, phối hợp giữa nhiều đơn vị và chiến trường. Đối với Hoàng Văn Thái, đây còn là bài toán về quan hệ quốc tế: quân tình nguyện Việt Nam phải phối hợp, tôn trọng lực lượng bạn và gắn nhiệm vụ quân sự với mục tiêu chính trị của cách mạng Campuchia.

Năm 1972, Bộ Chỉ huy Miền tham gia tổ chức Chiến dịch Nguyễn Huệ trên hướng Đông Nam Bộ. Trọng điểm là tuyến Đường số 13 và khu vực Lộc Ninh, An Lộc. Quân giải phóng sử dụng lực lượng quy mô lớn, có xe tăng, pháo binh và phòng không, thể hiện bước phát triển của tác chiến hiệp đồng binh chủng tại chiến trường B2.

Lộc Ninh được giải phóng, tạo ra một địa bàn có giá trị chiến lược và sau đó trở thành nơi đặt trụ sở của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, chiến sự tại An Lộc diễn ra rất ác liệt. Đối phương dựa vào không quân, pháo binh và lực lượng tăng viện để giữ thị xã. Các trận đánh chỉ ra cả bước trưởng thành lẫn những hạn chế của lực lượng ta khi tiến công một khu vực phòng ngự được yểm trợ bằng hỏa lực mạnh.

Hoàng Văn Thái yêu cầu cơ quan tham mưu tổng kết nghiêm túc việc sử dụng binh chủng, tổ chức đột phá, phòng tránh hỏa lực đường không và bảo đảm hậu cần. Ông hiểu rằng chiến tranh đang tiến gần đến giai đoạn mà những trận đánh cấp sư đoàn, quân đoàn sẽ ngày càng phổ biến. Muốn giành thắng lợi quyết định, lực lượng Miền phải vừa giữ được thế trận nhân dân, vừa phát triển khả năng tác chiến tập trung.

Giai đoạn 1969–1972 cho thấy bản lĩnh của Hoàng Văn Thái trong những thời điểm không thuận lợi. Ông không để tổn thất sau Mậu Thân dẫn đến tư tưởng phòng ngự kéo dài, mà cùng tập thể lãnh đạo từng bước khôi phục lực lượng và giành lại thế chủ động. Những vùng giải phóng tại Đông Nam Bộ và kinh nghiệm hiệp đồng binh chủng sau này trở thành điều kiện quan trọng cho cuộc tiến công cuối cùng vào Sài Gòn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn