181 ngày dựng nền công lý – Vũ Trọng Khánh và ba phần tư bản dự thảo Hiến pháp
Chỉ giữ chức Bộ trưởng Tư pháp trong 181 ngày, Vũ Trọng Khánh đã xây dựng bộ máy đầu tiên của ngành, trình bốn sắc lệnh nền tảng và chấp bút khoảng ba phần tư bản dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam mới.
Ngày 8 tháng 11 năm 1945, bảy thành viên Ủy ban dự thảo Hiến pháp tập trung trong phiên họp cuối cùng dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Trọng Khánh được đề nghị đứng lên đọc toàn văn bản dự thảo.
Từng điều khoản về tổ chức Nhà nước, quyền của công dân và trách nhiệm của chính quyền lần lượt được trình bày. Khi phần đọc kết thúc, cả bảy thành viên đều biểu quyết tán thành.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét:
“Đây là một bản dự thảo đặc sắc, ông Vũ Trọng Khánh có công đầu.”
Ít người biết người được giao chắp bút phần lớn văn bản ấy mới nhận chức Bộ trưởng Tư pháp hơn hai tháng. Bộ mà ông phụ trách cũng vừa được thành lập, gần như chưa có một bộ máy hoàn chỉnh để vận hành.
Vũ Trọng Khánh sinh ngày 13 tháng 3 năm 1912, trong một gia đình tiểu thương ở Hà Nội. Quê ông tại làng Cự Đà, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông cũ.
Từ nhỏ, ông theo học Trường Lycée Albert Sarraut, một trong những trường nổi tiếng nhất Đông Dương. Là học sinh giỏi, ông được gia đình kỳ vọng sẽ đi theo con đường làm quan trong bộ máy thuộc địa.
Nhưng Vũ Trọng Khánh không muốn trở thành tri huyện hay tri phủ.
Sau khi đỗ tú tài, năm 1932, ông vào học Trường Đại học Luật Đông Dương tại Hà Nội. Trong thời gian này, ông quen biết những sinh viên sau trở thành các trí thức và nhà hoạt động quan trọng như Võ Nguyên Giáp, Vũ Đình Hòe.
Năm 1936, Vũ Trọng Khánh tốt nghiệp cử nhân luật. Ông làm thư ký tại một văn phòng luật sư rồi tuyên thệ trước Tòa Thượng thẩm Hà Nội vào tháng 12 năm 1941.
Sau đó, ông về Hải Phòng hành nghề.
Với khả năng tranh tụng bằng tiếng Pháp cùng kiến thức pháp luật vững vàng, Vũ Trọng Khánh nhanh chóng được đồng nghiệp và người dân biết đến. Ông còn tham gia các nhóm nghiên cứu tiến bộ và sử dụng chuyên môn, quan hệ nghề nghiệp để hỗ trợ phong trào cách mạng tại Hải Phòng.
Sau cuộc đảo chính ngày 9 tháng 3 năm 1945, bộ máy cai trị của Pháp tan rã, trong khi quân đội và hiến binh Nhật vẫn kiểm soát an ninh. Thành phố Hải Phòng rơi vào tình trạng rối ren: điện, nước chập chờn, vệ sinh đình trệ; những phần tử thân Nhật tìm cách tranh giành quyền lực và mở các hoạt động kiếm lợi.
Trong hoàn cảnh ấy, Vũ Trọng Khánh nhận làm Thị trưởng Hải Phòng.
Trong hồi ký, ông giải thích rằng nếu người lương thiện không đứng ra nhận trách nhiệm thì những kẻ bất lương có thể dựa vào quân Nhật, chiếm lấy bộ máy thành phố và làm hại dân.
Trên cương vị Thị trưởng, ông tìm cách nắm các cơ quan hành chính, ngân hàng, cảnh sát, trại giam và lực lượng bảo an. Ông tổ chức thả tù chính trị, ngăn chặn những phần tử thân Nhật mở sòng bạc, đồng thời duy trì điện, nước và vệ sinh thành phố.
Những hành động ấy giúp lực lượng cách mạng chuẩn bị tiếp quản Hải Phòng khi thời cơ đến.
Sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa, Vũ Trọng Khánh bàn giao chính quyền thành phố cho Mặt trận Việt Minh. Ngày 23 tháng 8 năm 1945, ông được cử làm Ủy viên Hành chính trong Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời Hải Phòng.
Ba ngày sau, một bức điện của Võ Nguyên Giáp được gửi đến, đề nghị ông lập tức lên Hà Nội.
Vũ Trọng Khánh nhận nhiệm vụ Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 28 tháng 8 năm 1945, Bộ Tư pháp chính thức có mặt trong nội các của Nhà nước mới.
Đó là một lựa chọn có ý nghĩa đặc biệt.
Chính quyền cách mạng vừa được thành lập, nhưng nếu chỉ có sức mạnh giành chính quyền mà chưa có pháp luật để điều hành đất nước, quyền tự do của nhân dân sẽ khó được bảo vệ. Một Nhà nước độc lập cần nhanh chóng xác định ai là công dân, tòa án hoạt động ra sao, thẩm phán được tổ chức thế nào và người dân có quyền nhờ luật sư bảo vệ hay không.
Vũ Trọng Khánh phải bắt đầu gần như từ đầu.
Ngày 20 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 34 thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp gồm bảy thành viên: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy, Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng và Đặng Xuân Khu, tức Trường Chinh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị giao cho Đặng Thai Mai và Vũ Trọng Khánh soạn bản dự thảo đầu tiên.
Hai người trước hết xây dựng đề cương để Ủy ban góp ý, sau đó chia nhau chấp bút từng phần. Theo lời kể của Giáo sư Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh chịu trách nhiệm viết những phần quan trọng nhất, chiếm khoảng ba phần tư bản dự thảo.
Khó khăn không chỉ nằm ở thời gian gấp gáp. Việt Nam chưa từng có một bản Hiến pháp dân chủ của riêng mình. Những khái niệm như quyền công dân, tổ chức nghị viện, trách nhiệm của chính phủ và tính độc lập của tư pháp phải được trình bày bằng tiếng Việt pháp lý rõ ràng, dễ hiểu.
Vũ Trọng Khánh và Đặng Thai Mai tham khảo ý kiến của Võ Nguyên Giáp, Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại cùng nhiều trí thức khác. Các luật sư Phan Anh và Nguyễn Mạnh Tường cho mượn những văn kiện bằng tiếng Pháp, trong đó có Tuyên ngôn Độc lập, Hiến pháp Hoa Kỳ và Hiến pháp Pháp.
Nhưng công việc không phải là sao chép mô hình nước ngoài.
Mục tiêu là tạo ra một bản Hiến pháp phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam: đất nước vừa thoát khỏi chế độ thuộc địa, nhân dân lần đầu trở thành chủ thể của quyền lực nhà nước và nền độc lập đang đứng trước nhiều mối đe dọa.
Ngày 8 tháng 11 năm 1945, bản dự thảo được Ủy ban nhất trí thông qua và công bố để lấy ý kiến nhân dân. Văn bản này trở thành một trong những nền tảng quan trọng để Quốc hội tiếp tục xây dựng và thông qua Hiến pháp năm 1946 vào ngày 9 tháng 11 năm 1946.
Hiến pháp gồm lời nói đầu, bảy chương và 70 điều, ghi nhận nhiều nguyên tắc tiến bộ: quyền lực thuộc về nhân dân; mọi công dân bình đẳng trước pháp luật; phụ nữ ngang quyền với nam giới; công dân có quyền tự do ngôn luận, xuất bản, tín ngưỡng, cư trú và đi lại.
Trong khi tham gia soạn Hiến pháp, Vũ Trọng Khánh vẫn phải xây dựng bộ máy tư pháp hằng ngày.
Ngày 30 tháng 11 năm 1945, ông ký Nghị định số 37 đặt cơ sở đầu tiên cho tổ chức Bộ Tư pháp. Bộ khi ấy có các bộ phận phụ trách nội vụ, viên chức, hộ vụ, hình vụ, quản lý nhà lao và giáo dục tù nhân.
Trong 181 ngày giữ chức Bộ trưởng, ông còn trình Chính phủ ban hành bốn văn bản đặc biệt quan trọng:
Sắc lệnh về tổ chức đoàn luật sư;
Sắc lệnh quy định quốc tịch Việt Nam;
Sắc lệnh tổ chức các tòa án thường và ngạch thẩm phán;
Sắc lệnh tổ chức tòa án quân sự.
Những văn bản này trả lời các câu hỏi rất thiết thực của Nhà nước non trẻ: Ai là người Việt Nam? Người dân được bào chữa như thế nào? Tòa án phải được tổ chức ra sao? Ai có quyền xét xử?
Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp kháng chiến được thành lập. Vũ Đình Hòe được điều sang giữ chức Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Vũ Trọng Khánh kết thúc nhiệm kỳ sau đúng 181 ngày.
Ngay sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh cử ông làm Chưởng lý Tòa Thượng thẩm Bắc Bộ, một chức danh có thể xem gần tương đương người đứng đầu cơ quan công tố cấp cao.
Ông tiếp tục tham gia Hội nghị Fontainebleau, làm Giám đốc Tư pháp Chiến khu 10 và đảm nhiệm nhiều công tác pháp luật trong kháng chiến. Sau năm 1954, ông tham gia tiếp quản Hà Nội rồi tình nguyện trở về công tác tại Hải Phòng.
Vũ Trọng Khánh qua đời ngày 22 tháng 1 năm 1996, hưởng thọ 84 tuổi.
Ông chỉ đứng đầu Bộ Tư pháp trong một quãng thời gian ngắn. Nhưng 181 ngày ấy nằm đúng vào thời điểm một chính quyền cách mạng phải chuyển mình thành một Nhà nước được tổ chức bằng pháp luật.
Vũ Trọng Khánh đã góp phần dựng lên những viên gạch đầu tiên: một Bộ Tư pháp, một hệ thống tòa án, một chế định luật sư, một quy định về quốc tịch và trên hết là bản dự thảo cho Hiến pháp đầu tiên.
Ông không chỉ viết những điều luật.
Ông góp phần viết ra cách một dân tộc vừa giành được độc lập sẽ tự tổ chức và bảo vệ quyền làm chủ của mình.


