197. ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN NGUYỄN THỊ RÀNH
Người dân quanh vùng thường gọi má bằng những cái tên thân thương: “Má Tám Rành”, “Bà mẹ Củ Chi”, “Bà mẹ Đất thép”, “Bà má Dũng sĩ”. Ngoài ra, do ghiền trầu từ thời trẻ, nên má còn được gọi là “Má Tám Trầu”.
Mẹ Nguyễn Thị Rành, sinh năm 1900 và mất năm 1979, cha mẹ mất sớm, Mẹ bị tên Lý Hạnh ở Xóm Giữa kêu lính đến bắt về làm mướn cho hắn để trừ món nợ của cha mẹ khi mới 14 tuổi. Lớn lên, Mẹ lập gia đình cùng thầy giáo Nguyễn Văn Cầm ở ấp Bàu Công, xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Năm 1941, thầy nghỉ dạy để có điều kiện tham gia hoạt động cách mạng. Mẹ được bà con xóm giềng khen ngợi: “Vợ thầy Cầm đẹp nết, đẹp người”. Lấy chồng, mẹ lại phải vừa lo cho gia đình vừa lo cho đất nước. Trong những năm chiến tranh, mẹ là người chí cốt với cách mạng “Một tấc không đi, một ly không rời”, mẹ quyết không vào ấp chiến lược của địch, mà ở lại xã Phước Hiệp chịu đựng bom rơi, pháo chụp. Mẹ nuôi dưỡng cán bộ, chiến sĩ, du kích địa phương và chỉ vẽ cho con cháu đánh giặc. Trong hệ thống địa đạo Củ Chi nổi tiếng, có công lao đóng góp của mẹ. Cùng với nhân dân Củ Chi, mẹ nhẫn nại kiên trì đào hầm để chiến đấu, tự vệ và phục vụ cuộc chiến đấu chống Mỹ ròng rã của nhân dân vùng đất thép nổi tiếng. Địch nhiều lần bắt mẹ, hết dụ dỗ, lừa gạt đến tra tấn dã man hòng ép mẹ kêu gọi con cháu về đầu hàng chúng và ly khai với cách mạng. Nhưng trước sau, mẹ vẫn một lòng một dạ kiên trung, bất khuất, bám trụ giữ đất, nuôi dưỡng cán bộ, chiến sĩ và đội du kích nữ Củ Chi đến ngày toàn thắng.
Có lẽ đối với mẹ hay với bất cứ những người mẹ nào khác thì những khổ cực trên cũng chẳng là gì so với nỗi đau mất đi núm ruột của mình. Từ năm 1947 đến năm 1969, trong 22 năm đó, mẹ đã phải đau đớn chịu cảnh tre già khóc măng non khi 8 người con trai yêu quý của mẹ là các anh: Nguyễn VănDúng, Nguyễn Văn Sóc, Nguyễn Văn Vẻ, Nguyễn Văn Hè, Nguyễn Văn Huội, Nguyễn Văn Sướng, Nguyễn Văn Nâng, Nguyễn Văn Luôn lần lượt ra đi mãi mãi không về theo tiếng gọi của non sông. Đau thương, mất mác là thế nhưng mẹ quyết không ngã quỵ, quyết không từ bỏ khi đất nước còn lâm nguy. Những đứa cháu trai của mẹ lại tiếp tục lên đường đánh giặc tiếp bước những người cha, người chú, người cậu anh hùng của mình. Và rồi, một lần nữa, mẹ lại khóc tiễn đưa hai người cháu yêu thương. Những ai đã từng làm mẹ mới thấu hiểu được phần nào nỗi đau xé lòng của Mẹ. Cả cuộc đời mẹ đã cống hiến cho non sông, đất nước. Cống hiến cả những đứa con ruột thịt – thứ quý giá nhất của mình cho hòa bình dân tộc. Sự hy sinh, mất mát của mẹ không gì có thể bù đắp được
Để tôn vinh công lao to lớn của mẹ, ngày 06 tháng 01 năm 1978, Chủ tịch nước và Quốc Hội quyết định tuyên dương danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam” dành cho mẹ . Một tấm gương sáng tuyệt vời của bà mẹ Việt Nam với sự hy sinh cao cả, một lòng một dạ kiên trung với dân với nước. Ngày 26 tháng 01 năm 1979, mẹ Nguyễn Thị Rành mất vì tuổi cao, sức yếu. Đến năm 1994, mẹ được truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, góp phần tôn vinh công lao đóng góp và sự hy sinh của mẹ.
Với những cống hiến và hy sinh to lớn của gia đình và bản thân mẹ, hiện nay đã có những công trình mang tên Bà mẹ Việt Nam Anh hùng – Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Thị Rành. Tên mẹ Nguyễn Thị Rành được đặt tên cho 1 tuyến đường từ xã Phước Hiệp đến xã Phú Mỹ Hưng, 1 trạm y tế xã, 1 ngôi trường tiểu học.
Với hình ảnh sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, mẹ Nguyễn Thị Rành đã gánh vác việc nước, đảm đang việc nhà để chồng con yên tâm đánh giặc. Sự hy sinh đó của mẹ đã góp phần làm nên hình ảnh những Bà Mẹ Việt Nam anh hùng – Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân kiên cường, bất khuất. Tấm gương hy sinh của mẹ đã tô đậm thêm màu cờ của Tổ quốc, tạo nên những trang sử hào hùng của phụ nữ Củ Chi nói riêng cũng như nêu cao truyền thống “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” của phụ nữ Việt Nam nói chung, mãi mãi đi vào lòng người dân Củ Chi “Đất thép thành đồng”, mãi mãi là tấm gương sáng cho muôn đời con cháu noi theo.



