2 bà Trưng
Thuở ấy, nước ta rơi ách cai trị tàn bạo của nhà Đông Hán. Thái thú Tô Định tham lam, tàn ác, ra sức bóc lột dân chúng vô cùng nặng nề.
Tại vùng Mê Linh, hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị vốn là con gái của một Lạc tướng, từ nhỏ đã được rèn luyện võ nghệ, khí phách kiên cường và lòng yêu nước sâu sắc. Trưng Trắc kết hôn với Thi Sách – con trai Lạc tướng huyện Chu Diên, người cùng chung chí hướng đánh đuổi quân ngoại xâm. Thấy vợ chồng Trưng Trắc và Thi Sách được nhân dân kính trọng và nung nấu ý chí phản kháng, Tô Định vô cùng lo sợ. Lão lập mưu bắt và sát hại Thi Sách nhằm dập tắt phong trào.
Nợ nước thù nhà chồng, gạt đi giọt nước mắt đau thương, Trưng Trắc cùng em gái Trưng Nhị quyết định đứng lên gánh vác trọng trách non sông. Mùa xuân năm 40 SCN, tại bãi sông Hát (Hát Môn, Phúc Thọ, Hà Nội ngày nay), Hai Bà Trưng chính thức dựng cờ khởi nghĩa.
Trong ngày xuất quân, hình ảnh Hai Bà Trưng mặc giáp phục lộng lẫy, hiên ngang cưỡi trên mình voi dữ, tay vung gươm lớn hô vang hiệu lệnh đã truyền ngọn lửa căm thù và khí thế ngút trời đến hàng vạn nghĩa quân. Tiếng trống đồng dội vang dội núi rừng, thúc giục lòng người.
Khí thế nghĩa quân mạnh như bão táp. Chỉ trong vòng chưa đầy hai tháng, quân của Hai Bà Trưng đã đánh tan lực lượng giặc, giải phóng được 65 thành trì từ Mê Linh đến Cổ Loa và Luy Lâu. Thái thú Tô Định hoảng sợ đến mức phải cắt tóc, cạo râu, cải trang thành dân thường lén lút trốn chạy về nước.
Sau khi thắng lợi, đất nước được độc lập, Trưng Trắc lên ngôi vua, xưng là Trưng Nữ Vương, đóng đô ở Mê Linh, miễn thuế cho nhân dân trong ba năm để hàn gắn vết thương chiến tranh. Dù sau đó nhà Hán sai tướng Mã Viện sang đàn áp và Hai Bà đã anh dũng gieo mình xuống dòng sông Hát tuẫn tiết để bảo toàn khí节 (43 SCN), nhưng tinh thần quật cường của Hai Bà mãi mãi là biểu tượng sáng ngời cho ý chí độc lập của dân tộc Việt Nam.



