Bài viết

(200) Danh thần Ngô Trí Hòa: Bậc Hoàng giáp kinh bang tế thế xứ Nghệ, bản điều trần an dân sáu việc và rường cột ba triều Lê - Trịnh

Danh thần Ngô Trí Hòa (1564 – 1625), quê làng Lý Trai, huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An, là bậc danh nho kiệt xuất, nhà chính trị tài năng và đại thần phụng sự ba đời vua thời Lê Trung hưng. Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) năm 28 tuổi, ông kinh qua nhiều trọng trách then chốt: Thượng thư bộ Hộ, Tả thị lang bộ Lại, Tế tửu Quốc Tử Giám, tước Phú Xuân hầu rồi gia thăng Thiếu bảo; năm 1618, ông dâng bản điều trần 6 việc an dân trị quốc nổi tiếng trong lịch sử; sau khi qua đời, ông được triều đình truy tặng tước Xuân Quận công.

TP. Hồ Chí Minh02/10/2026Đoàn xã Bình Mỹ (Xã Bình Mỹ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Danh thần Ngô Trí Hòa sinh năm 1564 (năm Giáp Tý), tạ thế năm 1625 (năm Ất Sửu), hưởng thọ 61 tuổi, quê quán tại làng Lý Trai, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, xứ Nghệ An (nay thuộc xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An), là bậc đại khoa uyên bác, danh thần mẫu mực có công lao to lớn đối với nền chính trị, giáo dục và quốc kế dân sinh thời Lê Trung hưng; xuất thân trong một cự tộc khoa bảng trứ danh, ông cùng cha là danh thần Ngô Trí Tri tạo nên kỳ tích "phụ tử đồng khoa" hiếm có trong lịch sử khoa cử nước nhà; vào khoa thi năm Nhâm Thìn (1592) dưới triều vua Lê Thế Tông, ông xuất sắc đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khi mới 28 tuổi; bước vào hoạn lộ, ban đầu ông được bổ nhiệm làm Án sát sứ Sơn Tây, đem tài năng và sự công minh giữ vững trật tự nơi trấn trị; nhận thấy tài năng xuất chúng và phẩm hạnh thanh liêm của ông, Bình An Vương Trịnh Tùng hết mực tri ngộ, triệu về kinh đô trao chức Đô cấp sự trung Lại khoa, ít lâu sau thăng chức Hữu thị lang bộ Hình rồi ra giữ chức Ký lục trấn Thanh Hóa; đến năm Giáp Thìn (1604), ông được triệu hồi về triều giữ chức Tả thị lang bộ Lại và được ban phong tước Phú Lộc bá; năm 1606, ông vâng mệnh triều đình dẫn đầu đoàn sứ bộ sang nhà Minh thực hiện nhiệm vụ ngoại giao, bằng tài ứng đối sắc sảo và phong thái đĩnh đạc của bậc danh nho Đại Việt, ông đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh bang giao, giữ vững thể diện quốc gia; sau chuyến đi sứ thành công, vào năm Mậu Thân (1608), ông được thăng làm Thượng thư bộ Hộ kiêm chức Tế tửu Quốc Tử Giám – người đứng đầu trường đại học quốc gia tối cao trông coi việc đào tạo nhân tài cho đất nước; đến năm Canh Tuất (1610), ông được gia phong tước Phú Xuân hầu; không chỉ giỏi việc bang giao và điều hành chính sự, ông luôn đau đáu với vận mệnh nhân dân; vào năm Mậu Ngọ (1618), trước thực trạng triều chính nhiều rối ren và đời sống muôn dân còn nhiều gian khó, ông đã dũng cảm dâng lên triều đình bản điều trần trị quốc gồm 6 điều then chốt: một là xin sửa đức để cầu mệnh trời giúp, hai là răn trị bọn quyền hào ức hiếp để nuôi dưỡng sức dân, ba là bãi bỏ những việc phiền hà nhiễu sách để bớt khổ cho dân, bốn là tiết chế xa xỉ nhằm tránh tiêu hao tài sản của nhân dân, năm là trừ dẹp trộm cướp để giữ xóm làng yên ổn, sáu là chỉnh đốn quân chính nhằm bảo toàn sinh mạng cho nhân dân; bản tấu sớ đầy tâm huyết và tầm nhìn chiến lược ấy đã trở thành một văn kiện lịch sử mẫu mực về tư tưởng thân dân và nghệ thuật quản trị quốc gia; đến năm Quý Hợi (1623), khi địa bàn Sơn Tây nổ ra biến loạn, ông lập công lớn trong việc tham mưu và dẹp yên loạn lạc, được triều đình gia phong hàm Thiếu bảo cùng danh hiệu cao quý Hiệp Mưu tá lý dực vận tán trị công thần; trải qua ba triều vua, ông luôn là bậc rường cột vững chắc của triều đình, được cả vua Lê chúa Trịnh nhất mực kính trọng, sĩ phu cả nước tôn sùng; ngày ông qua đời vào năm Ất Sửu (1625), triều đình vô cùng thương tiếc, bãi triều để cử lễ viếng và truy tặng tước Xuân Quận công; nhân cách cao khiết, học thuật uyên thâm và tấm lòng suốt đời vì nước vì dân của Hoàng giáp Ngô Trí Hòa là niềm tự hào của quê hương xứ Nghệ và lưu danh muôn thuở trong sử sách dân tộc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn