Mẹ Việt Nam Anh hùng

22. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Vũ Đức Chính

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Vũ Đức Chính

TP. Hồ Chí Minh21/05/2026Đoàn Thanh niên Phân hiệu Trường Đại học Ngoại thương tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đoàn Thanh niên Phân hiệu Trường Đại học Ngoại thương tại Thành phố Hồ Chí Minh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thân thế và những ngày đầu nhập ngũ

Chúng tôi có cơ hội gặp gỡ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (AHLLVTND) Vũ Đức Chính vào một buổi chiều cuối năm. Ở tuổi 84, người chiến sĩ năm xưa vẫn giữ nguyên tác phong nhanh nhẹn, hoạt bát của đời lính. Ánh mắt ông sáng lên niềm tự hào khi hồi tưởng về một thời gian khổ nhưng oanh liệt của quân và dân ta.

Ông sinh năm 1940 trong một gia đình bần nông giàu truyền thống cách mạng tại xã Vân Du, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, có người cha là cán bộ thời kỳ tiền khởi nghĩa. Năm 1960, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, người thanh niên Vũ Đức Chính tình nguyện lên đường nhập ngũ khi vừa tròn 20 tuổi. Ông được điều động về đóng quân tại Trung đoàn 290, Binh chủng Ra-đa thuộc Quân chủng Phòng không – Không quân. Sau một thời gian ngắn rèn luyện, nhờ năng lực vượt trội, ông được cấp trên cử đi học lớp sửa chữa ra-đa và quyết định gắn bó, phục vụ lâu dài trong quân đội.

Người lính thầm lặng bảo bối của "mắt thần" chiến đấu

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông đảm nhiệm trọng trách sửa chữa hệ thống ra-đa cho các đơn vị trong toàn quân chủng. Điều kiện tác chiến thời bấy giờ vô cùng khắc nghiệt: bom đạn kẻ thù cày xới ác liệt, ông phải thường xuyên đi bộ đường trường, trèo đèo lội suối để tiếp cận các trạm, đài khí tài; trong khi đó, nguồn vật tư, thiết bị thay thế thiếu thốn trăm bề, trình độ chuyên môn của ta khi ấy còn hạn chế. Thế nhưng, vượt lên trên tất cả, người lính Vũ Đức Chính đã nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, tìm mọi cách khắc phục hỏng hóc để hồi sinh các bộ máy ra-đa, bảo đảm dòng thông tin thông suốt phục vụ trận địa.

Tính chung trong suốt cuộc đời binh nghiệp, ông đã trực tiếp sửa chữa thành công gần 500 lượt chiếc máy ra-đa các loại. Ông làm chủ và sửa chữa thành thạo từ các dòng ra-đa sóng mét (như II-10, 513K, 514, II-12, 406…) cho đến hệ thống ra-đa sóng cen-ti-mét (II-35) hiện đại. Từ một người thợ sửa chữa trình độ sơ cấp ban đầu, nhờ tinh thần kiên trì tự học và miệt mài đúc rút kinh nghiệm, ông đã xuất sắc vươn lên thành thợ sửa chữa bậc 5, có khả năng xử lý nhiều dòng máy phức tạp khác nhau.

Sáng kiến kỹ thuật vạch mặt "siêu pháo đài bay" B-52

Không dừng lại ở việc sửa chữa theo lối mòn, Anh hùng Vũ Đức Chính còn say mê nghiên cứu, cải tiến nhiều bộ phận thiết bị khí tài có giá trị thực tiễn cao cho chiến đấu. Tiêu biểu là quy trình bảo quản đèn hiện sóng, giúp kéo dài thời gian sử dụng của đèn thêm 600 giờ; hay sáng kiến cải tiến mạch điện trong biến thế động cơ UV-2 của máy II-10 và 513K. Cải tiến này giúp nâng cao độ tin cậy cùng tham số chiến đấu, bảo đảm cho anten của đài ra-đa quay bình thường ngay cả trong điều kiện độ ẩm cao và phải cơ động di chuyển liên tục.

Một kỷ niệm sâu sắc là lần đơn vị phải cơ động máy lên đỉnh núi cao tại Kỳ Sơn (Hà Tĩnh). Nơi đây vách đá cheo leo, không có đường cho xe cơ giới tiếp cận. Trước tình thế đó, ông đã chủ động thiết kế phương án và trực tiếp tổ chức tháo rời cỗ máy ra-đa thành từng khối nhỏ, dùng sức người khuân vác lên đỉnh núi rồi lắp ráp lại bảo đảm an toàn tuyệt đối với độ chính xác cao. Sáng kiến này tạo điều kiện tối ưu để ra-đa phát hiện tốt các mục tiêu bay thấp của địch, đồng thời kinh nghiệm này đã được viết thành báo cáo chuyên đề và áp dụng rộng rãi trong toàn binh chủng.

Đặc biệt, vào năm 1972, khi đế quốc Mỹ điên cuồng dùng "siêu pháo đài bay" B-52 đánh phá miền Bắc, ông đã có sáng kiến hiệu chỉnh các thiết bị đồng bộ của ra-đa II-10 và 513K, giúp vạch mặt B-52 từ cự ly xa hơn 240km. Ông cũng đúc kết ra quy tắc thao tác trên một số dòng máy để bắt gọn mục tiêu B-52 ở khoảng cách mà trước đó khí tài của ta bất lực. Sáng kiến mang tính bước ngoặt này đã phát huy tối đa công năng chiến đấu của binh chủng ra-đa, phối hợp chặt chẽ cùng các lực lượng cao xạ, tên lửa và không quân bẻ gãy cuộc tập kích chiến lược của địch. Bên cạnh đó, ông còn trực tiếp xuống đài trực cùng các trắc thủ. Bằng kiến thức chuyên môn sâu rộng và hiểu rõ nguyên lý máy, ông đã tìm ra cách phân biệt chính xác giữa máy bay B-52 và máy bay cường kích dựa vào độ cao bay, xác định chuẩn xác phương vị, cự ly để thông báo kịp thời cho các đơn vị phòng không khai hỏa, dẫn đường cho tên lửa và tiêm kích của ta cất cánh tiêu diệt mục tiêu. Quy trình này sau đó được ông viết thành văn bản để phổ biến toàn quân chủng.

Sự vinh danh của Đảng, Nhà nước và ngọn đuốc cho thế hệ trẻ

Trong suốt 24 năm cống hiến dưới quân kỳ, ông vinh dự có 12 năm đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua và 7 năm là Chiến sĩ quyết thắng. Thực tế, ngay từ năm 1972, ông đã được đơn vị lập thủ tục xét tặng danh hiệu Anh hùng. Tuy nhiên, do yêu cầu mật của nhiệm vụ, ông phải liên tục di chuyển qua nhiều đơn vị chiến đấu khác nhau, nên phải đến năm 1978, hồ sơ mới hoàn thành. Ông vinh dự được Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký quyết định phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vì đã lập được nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc về chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Câu chuyện cuộc đời oanh liệt của AHLLVTND Vũ Đức Chính chính là một tượng đài sống động về tinh thần dũng cảm, trí tuệ sáng tạo của người chiến sĩ Phòng không – Không quân. Giữa những ngày các địa phương đang rộn ràng tổ chức công tác tuyển quân, tấm gương của ông lại càng tiếp thêm niềm tin, ý chí và tinh thần yêu nước cháy bỏng cho thế hệ trẻ, thôi thúc các thanh niên hăng hái lên đường, nối tiếp truyền thống cha anh gánh vác trọng trách bảo vệ vững chắc vùng trời Tổ quốc thiêng liêng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
22. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Vũ Đức Chính | Câu chuyện thời hoa lửa