243. Trần Công An Đại tá - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
Hai câu thơ “Ai về xứ sở miền Đông / Đều nghe danh tiếng của Ông Hai Cà” nói về Anh hùng lực lượng vũ trang, Đại tá Trần Công An, người con ưu tú của cù lao Rùa Thạnh Hội. Qua tìm hiểu, cuộc đời ông gắn liền với nhiều điều đặc biệt.
Điều thứ nhất, ông sinh ngày 20-12-1920 tại làng Nhựt Thạnh; đúng 26 năm sau, khi Thạnh Hội khởi nghĩa, ông bắt đầu gia nhập lực lượng vũ trang với chức Xã đội trưởng. Ngày sinh của ông trùng hợp đặc biệt với ngày Bác Hồ thành lập tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, lực lượng mà ông gắn bó suốt đời.
Điều thứ hai, từ một cậu bé mồ côi cha lúc 7 tuổi, nhà nghèo không đất, mẹ con phải làm thuê, ông đã tự lực lao động mà đến tuổi đôi mươi mua được đôi trâu, rồi hai mẫu ruộng, và dựng nhà gỗ căm xe. Thành công ấy nhờ sự cần cù và đặc biệt là chiếc cối đá xanh Bửu Long – vật gắn bó với những năm tháng làm tiểu thủ công nghiệp, giúp ông vừa sản xuất nông nghiệp, vừa buôn bán, một mô hình sáng tạo hiếm thấy ở nông dân thời bấy giờ.
Điều thứ ba, ngày 20-12-1946, sau khi tay không bắt một tên lính Pháp giao cho Huyện ủy Tân Uyên, ông được huyện đội đưa về nhà để xin mẹ cho đốt nhà tình nguyện vào rừng kháng chiến. Trước bàn thờ tổ tiên, ông khấn rằng nước mất, dân bị áp bức, nên ông xin đốt nhà, đưa vợ con lên rừng chiến đấu. Ngọn lửa ông châm vào ngôi nhà mới xây bùng sáng cả cù lao Rùa, trở thành ngọn lửa tiêu thổ kháng chiến đầu tiên, thức tỉnh nhiều thanh niên trong làng lên Chiến khu Đ tham gia kháng chiến. Một tháng sau, Bác Hồ ra Lời kêu gọi Toàn dân kháng chiến và chủ trương tiêu thổ, khiến hành động của ông càng mang ý nghĩa đặc biệt.
Điều thứ tư, sau khi đốt nhà, cả gia đình ông đều vào rừng. Ông giữ chức Huyện đội phó phụ trách dân quân Tân Uyên, sau là Tỉnh đội trưởng Biên Hòa. Vợ ông – bà Trương Thị Niếu – là Thượng sĩ quân đội; nhiều con cháu ông cũng theo quân đội. Vì vậy gia đình ông được xem là gia đình “phu thê – phụ tử – tử tôn đều là đồng chí”, một gia đình tiêu biểu của Thạnh Hội và tỉnh Bình Dương.
Điều thứ năm, ông có diễm phúc 7 lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh.
– Năm 1952, ông ra Việt Bắc dự Hội nghị "Du kích chiến tranh", được Bác đến nói chuyện và trao Huy hiệu (lần 1).
– Trong lớp học 6 tháng, Bác đến thăm và yêu cầu xếp anh em Nam Bộ ngồi gần Bác (lần 2).
– Kết thúc lớp chỉnh huấn cải cách ruộng đất, Bác lại đến thăm (lần 3).
– Sau Hiệp định Giơnevơ, tại Hội nghị “Sửa sai cải cách ruộng đất”, ông gặp Bác lần 4.
– Năm 1959, dự Đại hội toàn quân, ông gặp Bác lần 5.
– Cuối năm 1959, tại buổi gặp 600 cán bộ miền Nam, ông gặp Bác lần 6.
– Trước khi ông trở về Nam, Bác Hồ và Bác Tôn đến thăm bộ đội miền Nam ở Sơn Tây, Bác bắt tay và căn dặn ông, đó là lần gặp thứ 7.
Đặc biệt, đúng ngày 19-3-1967, tròn 29 năm sau trận ông chỉ huy đánh tháp canh cầu Bà Kiên, Bác Hồ ký sắc lệnh thành lập Binh chủng Đặc công, điều khiến ông vô cùng tự hào.
Điều thứ sáu, trong hàng nghìn đại tá của Quân đội nhân dân Việt Nam, chỉ một số ít được phong hoặc truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đến năm 2006, cả nước chỉ có 1.286 người, và ông Trần Công An là một trong những con người đặc biệt đó.
Điều thứ bảy, dù đã mất 12 năm, mỗi dịp đình làng Nhật Thạnh cúng Kỳ yên, người dân vẫn kể chuyện “ông đại tá lạy dân”. Sáu cái lạy của ông trong đình làng không chỉ là lạy thần linh mà còn là lạy nhân dân, lạy truyền thống văn hóa quê hương. Chính sự chân thành ấy khiến mọi người rất kính trọng; trong mọi tranh chấp, khi ông khuyên giải, dân đều nghe theo.
Trong suốt hơn 60 năm sống, chiến đấu và công tác, ông luôn giữ phẩm chất của Bộ đội Cụ Hồ, hết lòng vì dân, vì nước. Đối với nhân dân cù lao Rùa – Thạnh Hội, ông Hai Trần Công An là con người đặc biệt, gắn liền với những sự kiện đặc biệt của quê hương. Trong hồi ký của Thiếu tướng Nguyễn Tư Cường – nguyên Tư lệnh Binh chủng Đặc công – ông được tôn vinh là “Ông Tổ của Binh chủng Đặc công”.



