25 chiến sỹ người Cao Bằng trong 34 chiến sĩ Đội VNTTGPQ
1. Dương Mạc Thạch (Dương Mạc Cam, Xích Thắng, 1915 - 1979), dân tộc Tày, quê Minh Tâm (Nguyên Bình).
Năm 1934, Dương Mạc Thạch chính thức tham gia cách mạng. Từ năm 1934 - 1940, ông lăn lộn với phong trào ở Nguyên Bình, năm 1940, Dương Mạc Thạch là Uỷ viên Ban Chấp hành lâm thời Tỉnh uỷ Cao Bằng. Năm 1944, Tỉnh uỷ viên Liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng, năm 1944, ông được đồng chí Võ Nguyễn Giáp cử xuống phát triển phong trào cách mạng ở vùng Bắc Kạn.
Khi thành lập ĐVNTTGPQ,Dương Mạc Thạch được bầu làm Chính trị viên, khi ĐVNTTGPQ gặp khó khăn về tài chính, ông bàn với gia đình ủng hộ Đội 500 đồng là số tiền rất lớn thời bấy giờ. Ông đã cùng Đội trưởng Hoàng Sâm chỉ huy Đội đánh thắng trận đầu ra quân Phai Khắt, Nà Ngần. Sau chiến thắng, ông cùng Đội về Lũng Dẻ để củng cố, bổ sung lực lượng phát triển thành Đại đội và được cử làm Chính trị viên, cùng Đại đội tiến đánh trận Đồng Mu (Bảo Lạc). Đầu năm 1945, ông trực tiếp chỉ huy một Đại đội vũ trang tuyên truyền và đánh địch ở Nguyên Bình, Ngân Sơn, Bạch Thông, Na Rì (Bắc Kạn). Tháng 8/1945, dẫn đoàn đại biểu Bắc Kạn tham gia Đại hội Quốc dân tại Tân Trào (Tuyên Quang). Sau đó về hoạt động ở Bắc Kạn làm Chủ tịch Uỷ ban Hành chính kháng chiến tỉnh. Tháng 6/1948, ông được điều về Bộ Tổng Tư lệnh làm Đặc phái viên các tỉnh miền núi, năm 1950, ông đi học Trường Chính trị Vân Nam (Trung Quốc). Cuối năm 1951, về nước được bổ sung vào Tỉnh uỷ Yên Bái, sau đó, Trung ương điều lên Hà Giang. Gần 20 năm gắn bó với vùng cao Hà Giang, ông đã trải qua các chức vụ: Tỉnh ủy viên, Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh, Phó Bí thư Tỉnh ủy. Năm 1970, ông về làm Bí thư Đảng uỷ Trường Đại học Nông nghiệp 3 Bắc Thái đến tháng 8/1973 được nghỉ hưu.
2. Hoàng Thế An (Thế Hậu, 1922 - 1969), dân tộc Tày, quê Đào Ngạn (Hà Quảng).
Năm 1940 được giác ngộ cách mạng. Trong những năm 1941 - 1943, ông được cử đi học tại Liễu Châu (Trung Quốc). Ông được giao phụ trách giao thông Quân đội sửa đường sá từ căn cứ Lam Sơn (Hoà An) qua Nguyên Bình xuống Ngân Sơn. Năm 1958, ông làm Chủ nhiệm Chính trị Tỉnh đội Hà Giang. Năm 1963, về Bộ Tư lệnh Công binh, phụ trách Z3 rồi Phó Chủ nhiệm Khu bí mật Chợ Đồn. Năm 1964, ông làm Chính uỷ Trung đoàn 289, Bộ Tư lệnh Công binh. Tháng 9/1969, ông qua đời.
3. Bế Bằng (Kim Anh), sinh năm 1920, dân tộc Tày, quê Hồng Việt (Hoà An).
Tham gia cách mạng từ rất sớm. Năm 1937, ông là một trong những hạt nhân phong trào cách mạng vì vậy bị thực dân Pháp bắt giam 3 tháng. Sau đó, ông rút vào hoạt động bí mật. Năm 1941, được cử đi học Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc), năm 1944, ông được chọn vào "Liên đội đặc biệt" làm nhiệm vụ bảo vệ Trung ương. Sau các trận đánh đồn Phai Khắt, Nà Ngần, Đồng Mu, cùng Bế Văn Sắt, Lâm Cẩm Như chỉ huy một đội Nam tiến xuống Ngân Sơn tuyên truyền vận động bà con người Hoa ủng hộ cách mạng. Trong kháng chiến chống Pháp, là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 71, Trung đoàn 148 chiến đấu ở vùng Tạ Khoa - Cò Nòi là những trọng điểm ác liệt. Sau đó về công tác tại thị xã Cao Bằng, đến năm 1964 nghỉ hưu.
4. Nông Văn Bát (Đàm Quốc Chủng, Đàm Tịch, 1923 - 1990), dân tộc Tày, quê Bình Long (Hoà An).
Năm 1938, ông tham gia cách mạng, giữa năm 1940, được đi học Trường Quân sự Liễu Châu (Trung Quốc). Năm 1944, về tham gia đội vũ trang châu Hoà An, tháng 12/1944, ông được chọn vào ĐVVTTGPQ. Sau hai trận Phai Khắt, Nà Ngần, Đội về Lũng Dẻ phát triển thành Đại đội. Sau trận Đồng Mu, ông phụ trách một Đại đội xuống Bắc Kạn, Thái Nguyên, tham gia Tổng khởi nghĩa ở Thái Nguyên. Sau đó, Chỉ huy một Đại đội xuống Vĩnh Yên đánh Quốc dân đảng. Tháng 4/1946, ông làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 77 (Thanh Hoá), cuối năm 1948, ông làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 115. Tháng 1/1950, ông được bổ nhiệm làm Trưởng Ban Thanh tra Khu 20. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (5/1954) về làm Hiệu trưởng Trường Văn hoá A3. Năm 1974, ông được phong quân hàm Đại tá và bổ nhiệm làm Tham mưu Phó Quân khu Tây Bắc. Sau đó, làm Tham mưu Phó Quân khu 1, đến năm 1983, nghỉ hưu.
5. Bế Văn Bồn (Bế Văn Sắt, Hồng Quân, Mậu, 1914 - 1987), dân tộc Tày, quê Đức Long (Hoà An).
Khi Hoà An có phong trào thí điểm Việt Minh, ông tích cực tham gia. Đến tháng 10/1943, ông cùng đoàn quân Nam tiến hoạt động từ Cao Bằng - Bắc Kạn- Thái Nguyên. Khi Đội phát triển thành Đại đội, ông làm Trung đội phó Trung đội 4. Tháng 3/1945, ông cùng Mai Trung Lâm được đồng chí Võ Nguyên Giáp cử đi Chợ Rã hoạt động, tháng 6/1945, ông về Tân Trào học Trường Quân chính K2. Trong Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia khởi nghĩa ở Vĩnh Yên, tháng 2/1946, chỉ huy một Đại đội đi "Tây tiến". Khi Trung đoàn Sơn La được thành lập, ông làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 90, chỉ huy tiêu diệt quân địch ở Tuần Giáo mở đường cho Trung đoàn 148 tiến về Điện Biên, Lai Châu. Năm 1958, được phong quân hàm Đại uý, sau đó, chuyển về Cao Bằng công tác và nghỉ hưu năm 1966.
6. Tô Văn Cắm (Tô Tiến Lực, Tô Đình Lực, sinh năm 1922), dân tộc Tày, xã Tam Kim (Nguyên Bình).
Khi phong trào cách mạng phát triển sang châu Nguyên Bình, ông quyết định đi theo cách mạng. Đầu năm 1942, sang Ngân Sơn vận động bà con vào các Hội Cứu quốc. Tháng 2/1944, đi học Trường Quân chính K3 do đồng chí Lê Thiết Hùng phụ trách mở tại Tam Kim sau đó hoạt động tại Tam Kim. Sau khi tham gia đánh các đồn Phai Khắt, Nà Ngần, Đồng Mu, về hoạt động tại vùng cao hai huyện Nguyên Bình, Ngân Sơn.
Tháng 9/1945, ông vào miền Nam đánh Pháp, giữa năm 1946, ông bị thương phải trở lại Bắc, rồi về địa phương. Sau sự kiện Pháp nhảy dù xuống Bắc Kạn (7/10/1947), ông trở lại Quân đội. Trong Chiến dịch Biên giới 1950, ông là Trung đội trưởng phòng không tham gia đánh Đông Khê. Trong trận này, ông lại bị thương phải chia tay với Quân đội về với quê hương, đến tháng 7/1991, ông cùng gia đình chuyển vào huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng sinh sống.
7. Nguyễn Văn Càng (Thu Sơn, 1919 - 1998), dân tộc Tày, quê Hồng Việt (Hoà An).
Năm 1936, ông tham gia cách mạng, năm 1941, được kết nạp vào Đảng và đi học tại Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc). Tháng 10/1944, Thu Sơn về nước được giao làm Tiểu đội trưởng. Với tầm vóc cao to, giống Tây, Thu Sơn được nhập vai “đội sếp” trong trận đánh Phai Khắt. Tháng 4/1945, chỉ huy một Trung đội hoạt động tuyến Chợ Đồn - Bắc Kạn. Ông là một trong những người lãnh đạo, chỉ huy đầu tiên vào giải phóng thị xã Bắc Kạn, giành chính quyền 21/8/1945.
Từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, ông được Đại tướng Võ Nguyên Giáp cử đi Nam Định chuẩn bị tổ chức các đội quân Nam Tiến. Là Chi đội trưởng (Chi đội Thu Sơn) đưa quân vào Nam đánh Pháp. Cuối tháng 10/1945, đến Ninh Hoà, Khánh Hoà, ông tăng cường cho mặt trận Nha Trang. Đầu năm 1946, chuyển về Phú Yên, làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 79 Phú Yên, sau đó, điều lên làm Phân Khu trưởng Bắc Tây Nguyên, tại đây ông bị thương nặng. Năm 1950, ông được ra Bắc rồi về làm Tỉnh đội trưởng Cao Bằng. Năm 1953, làm Tỉnh đội trưởng Tuyên Quang, đến năm 1958, làm Chủ tịch Uỷ ban Hành chính tỉnh kiêm Tỉnh đội trưởng. Năm 1958, được phong quân hàm Trung tá. Năm 1962, làm Chánh án Toà án nhân dân Khu tự trị Việt Bắc, năm 1971, nghỉ hưu.
8. Nguyễn Văn Cơ (Đức Cường, 1920 - 1997), dân tộc Tày, quê Đề Thám (Thành phố).
Tham gia cách mạng từ năm 1938. Năm 1940, ông được cử sang Trung Quốc học tập. Năm 1943, về nước hoạt động, ngày 22/12/1944, ông được chọn vào ĐVNTTGPQ, tham gia cả ba trận đánh Phai Khắt, Nà Ngần, Đồng Mu. Tháng 10/1945, cùng chi đội Thu Sơn lên đường Nam tiến, trong kháng chiến chống Pháp, giữ chức Đại đội trưởng Đại đội bảo vệ của Quân khu 5. Hoà bình lập lại về sinh sống tại Đức Cường, Đức Phổ (Quảng Ngãi). Sau đó chuyển về Ninh An, Ninh Hoà (Khánh Hoà). Trong kháng chiến chống Mỹ, làm cán bộ xã đội Ninh An, Ninh Hoà (Khánh Hoà). Khi biết Đức Cường là đội viên Đội VNTTGPQ, tỉnh Khánh Hoà đã xây tặng căn nhà tình nghĩa.
9. Trương Văn Cù (Vân Trường, Đồng, Trương Đắc, 1906 - 1958), dân tộc Tày, quê Minh Tâm (Nguyên Bình).
Tham gia cách mạng từ rất sớm, năm 1935 được kết nạp vào Đảng. Từ tháng 4/1941, được cử đi học Trường quân sự Điền Đông (Trung Quốc), năm 1942 về nước, ông tích cực hoạt động, bị khủng bố, rút vào hoạt động bí mật, sau đó phụ trách một tổ xung phong Nam tiến xuống vùng dân tộc Dao ở Nam Nguyên Bình, Bắc Ngân Sơn. Từ 1943 - 1944 dự một số lợp huấn luyện ở Minh Tâm, Tam Kim, Trường Quân chính K3 tại Khau Giáng (Tam Kim). Tham gia cả 3 trận đánh Phai Khắt, Nà Ngần, Đồng Mu. Sau Nhật đảo chính Pháp, ông đi Nam tiến xuống Bắc Kạn, Thái Nguyên. Khi Trung đoàn 72 thành lập, ông là Chính trị viên Tiểu đoàn 49 của Trung đoàn. Năm 1946, về Bộ Quốc phòng làm phái viên của Bộ tại Khu Việt Bắc. Năm 1950, do sức khoẻ yếu, ông phục viên về ở Phú Lương, Thái Nguyên, đến năm 1953, chuyển về Minh Tâm (Nguyên Bình) làm Chủ tịch xã, mất 1958.
10. Tô Vũ Dâu (Thịnh Nguyên, 1922 - 2001), dân tộc Tày, quê Vĩnh Quang (Thành phố).
Tham gia cách mạng từ năm 1937, là người tích cực đấu tranh đưa bản “dân nguyện” cho Gôda. Tháng 7/1941, ông tham gia phong trào Việt Minh, sau đó làm Chủ nhiệm Việt Minh xã Vệ Linh (nay là xã Vĩnh Quang), do bị khủng bố nên tháng 7/1944, phải rút vào hoạt động bí mật. Tháng 12/1944, ông được chọn vào ĐVNTTGPQ tham gia các trận đánh Phai Khắt, Nà Ngần. Ngày 1/1/1945, ông được kết nạp Đảng, sau đó, được về Liên Tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng làm việc. Khi Nhật đảo chính Pháp, được cử vào Trà Lĩnh lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền, đến giữa năm 1946, làm Phó Bí thư Huyện uỷ Trà Lĩnh, cuối năm 1949, về Hoà An làm Phó Bí thư Huyện uỷ, rồi Ban Tuyên huấn Tỉnh uỷ, năm 1953, về công tác tại xã Vĩnh Quang.
11. Dương Văn Dấu (Dương Đại Long, 1911 - 1979), dân tộc Nùng, quê Pác Bó, Trường Hà (Hà Quảng).
Tham gia cách mạng từ năm 1937, tháng 1/1942, ông được kết nạp vào Đảng, cuối năm 1943, làm Đội trưởng Đội tự vệ vũ trang châu Hà Quảng. Ông tham gia cả 3 trận đánh Phai Khắt, Nà Ngần, Đồng Mu. Sau trận đánh Nà Ngần lần thứ hai, ông phụ trách một đội Nam tiến hoạt động tại Ngân Sơn, Bạch Thông, Na Rì…, chỉ huy đơn vị tước vũ khí địch và giành chính quyền ở Ngân Sơn. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, ông làm Đại đội trưởng thay Thu Sơn đi Nam Tiến. Những ngày đầu kháng chiến, làm Tiểu đoàn Phó Tiểu đoàn độc lập Bắc Kạn, sau khi Pháp nhảy dù Cao Bằng, làm Tiểu đoàn trưởng một Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 74 Cao Bằng. Sau đó lần lượt làm Huyện đội trưởng các huyện: Hà Quảng, Trà Lĩnh, Phục Hoà. Năm 1955, đi học chính trị rồi về làm Tỉnh đội Phó tỉnh đội Tuyên Quang. Năm 1958, ông được phong quân hàm Đại uý, từ tháng 7/1959, làm Phó Chủ tịch Uỷ ban Hành chính tỉnh, đến tháng 12/1969, nghỉ hưu.
12. Chu Văn Đế (Nam, Bích Thông,1922 - 1948), dân tộc Tày, quê Minh Tâm (Nguyên Bình).
Hoạt động cách mạng từ năm 1938, năm 1941, ông tích cực trong Mặt trận Việt Minh. Đầu năm 1942, ông dự lớp huấn luyện đầu tiên do đồng chí Võ Nguyên Giáp tổ chức tại hang Kéo Quảng, Gia Bằng (nay thuộc xã Minh Tâm). Năm 1943, hoạt động tại vùng Đèo Gió thuộc Ngân Sơn. Sau ba trận Phai Khắt, Nà Ngần, Đồng Mu, tháng 10/1945, tham gia đoàn quân Nam Tiến (thuộc Chi đội Thu Sơn) vào chiến đấu tại Quảng Ngãi, Bình Định, Tây Nguyên. Ngày 30/8/1948, đang là Trung đội trưởng, chỉ huy Trung đội đánh sân bay Vanh Tiên, huyện Đắk Lây, Kon Tum, ông đã chiến đấu dũng cảm và anh dũng hy sinh.
13. Nông Văn Kiếm (Liên, 1924 - 1948), dân tộc Tày, quê Tam Kim (Nguyên Bình).
Từ năm 1941 - 1942, phong trào cách mạng phát triển đến các xã vùng cao của huyện, cả ba anh em Nông Văn Quang, Nông Văn Xứng, Nông Văn Kiếm đều tham gia cách mạng. Đầu năm 1943, ông được dự lớp huấn luyện cán bộ Việt Minh. Sau đó, ông phụ trách công tác tuyên truyền ở địa phương, khi bị lộ, cả ba anh em phải rút vào bí mật hoạt động và thành lập Đội vũ trang Đức Chính để chống khủng bố. Sau khi tham gia đánh các đồn Phai Khắt, Nà Ngần, Đồng Mu, hoạt động tại địa phương một thời gian, ông xuống Bắc Kạn, Thái Nguyên, rồi lên Lào Cai, Yên Bái đánh Quốc dân đảng. Giải phóng Tuyên Quang, cuối năm 1948, ông là Tiểu đoàn Phó chỉ huy đơn vị lên Lào Cai, bị Pháp phục kích, ông cùng đơn vị đã chiến đấu dũng cảm và ông dũng hy sinh khi vừa tròn 24 tuổi.
14. Đinh Văn Kính (Đinh Trung Lương, 1909 - 1999), dân tộc Tày, quê Lê Lợi (Thạch An).
Tham gia cách mạng từ năm 1940, từ đó, đến năm 1944, ông hoạt động tại vùng biên giới Việt - Trung. Tham gia các trận đánh Phai Khắt, Nà Ngần, Đồng Mu. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), ông chỉ huy một trung đội về Chợ Đồn. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, ông chỉ huy một Đại đội trở lại Tân Trào (Tuyên Quang). Những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, ông đã xin đi Nam tiến đánh Pháp, nhưng do yêu cầu nên tháng 11/1945, ông được giao chỉ huy một Tiểu đoàn tiễu phỉ ở tỉnh Bắc Giang. Cuối năm 1946, làm Trung đoàn phó Trung đoàn 12 ở vùng Thái Nguyên - Phúc Yên. Tháng 3/1953, về làm cán bộ huyện Thạch An, sau đó là cán bộ biệt phái của Khu tự trị Việt Bắc tại Hoà An. Từ năm 1958, làm Phó Chủ tịch huyện Thạch An, đến tháng 8/1967, nghỉ hưu.
15. Hà Hưng Long, sinh năm 1924, dân tộc Tày, quê Nam Tuấn (Hoà An).
Năm 1941, là đội viên Đội tự vệ châu Hoà An, từ 1941 - 1944, ông hoạt động chủ yếu tại Hoà An, Hà Quảng. Sau khi tham gia đánh ba đồn Phai Khắt, Nà Ngần, Đồng Mu, Ông được đi với đoàn đồng chí Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Thái xuống Chợ Rã, Chợ Đồn (Bắc Kạn), Sơn Dương (Tuyên Quang). Sau Nhật đảo chính Pháp, ông làm Tiểu đội trưởng chống Nhật ở Bắc Kạn, rồi Chính trị viên Đại đội. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Bắc Kạn thành lập Đại đội do ông chỉ huy lên đường sang Yên Bái, Tuyên Quang tước vũ khí Quốc dân đảng. Tháng 10/1945, ông chỉ huy đơn vị lên Hà Giang đánh phỉ, tháng 8/1946, được kết nạp vào Đảng. Năm 1947, ông làm Chính trị viên Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Hà Tuyên thuộc Liên khu 10. Từ tháng 10/1948 làm Trưởng ban cán bộ Liên Khu 10. Để chuẩn bị Chiến dịch Biên giới 1950, ông về làm Chủ nhiệm vận tải mặt trận, Phó Chủ nhiệm ban tiếp nhận viên trợ tại Tà Lùng - Thuỷ Khẩu. Trong những năm 1951 - 1954, ông lần lượt làm Binh trạm trưởng vận tải các chiến dịch lớn. Năm 1958, ông về Bộ Công nghiệp, sau đó, làm Bí thư Đảng uỷ Sở công nghiệp Hà Tuyên đến năm 1976, nghỉ hưu.
16. Hầu A Lý (Hồng Cô, 1912 - 1952), dân tộc Mông, quê Minh Tâm (Nguyên Bình).
Là người Mông duy nhất được chọn vào ĐVNTTGPQ. Ông đã tham gia cả ba trận đánh Phai Khắt, Nà Ngần, Đồng Mu. Năm 1952, về ở Hồng Việt, sau đó, chuyển sang Bình Long và mất tháng 9/1952.
17. Long Văn Mần (Ngọc Trình, 1928 - 1949), dân tộc Nùng, quê Bình Long (Hoà An).
15 tuổi đã đi theo cách mạng. Tháng 12/1944, được chọn vào ĐVNTTGPQ, là đội viên trẻ nhất của Đội, đã tham gia đánh các trận đánh đồn Phai Khắt, Nà Ngần, Đồng Mu, sau đó, đi hoạt động tại Ngân Sơn, Chợ Rã, Phủ Thông. Giữa năm 1945, chuyển sang hoạt động ở vùng biên giới Việt - Trung thuộc huyện Văn Lãng (Lạng Sơn). Cuối năm 1945, tham gia đánh đồn Chè Cáy (Lạng Sơn). Tháng 8/1945, sau khi tham gia giành chính quyền ở Lạng Sơn, phụ trách Đại đội độc lập huyện Văn Lãng, về sau thuộc Trung đoàn 174. Năm 1949, được cử tham gia Chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn giúp giải phóng phía Nam (Trung Quốc), đã anh dũng hy sinh, phần mộ hiện nay nằm trên đồi Pò Luông (Ái Khẩu, Quảng Tây, Trung Quốc).
18. Lâm Cẩm Như (Lâm Kính, 1920 - 1949), dân tộc Kinh, quê quán Đông Khê (Thạch An).
14 tuổi đã làm giao liên đưa đón cán bộ cách mạng sang Trung Quốc. Năm 1933, sang Nam Ninh (Trung Quốc) làm tại Nhà máy cơ khí Nam Hưng, năm 1934, gặp Lê Hồng Phong, chính thức trở thành giao liên Văn phòng của Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên tại Nam Ninh. Năm 1935, giúp tổ chức Đại hội đại biểu Đảng lần thứ nhất tại Ma Cao (Trung Quốc). Năm 1940, liên lạc được với đồng chí Hoàng Văn Thái và chuyển về làm trạm liên lạc ở Nam Ninh, năm 1944 về nước hoạt động. Tháng 12/1944, được chọn vào ĐVNTTGPQ, tham gia các trận đánh Phai Khắt, Nà Ngần, Đồng Mu. Sau đó đi phụ trách Đại đội du kích Chợ Chu. Trong Cách mạng Tháng Tám 1945, chỉ huy Chi đội 4 Việt Nam Giải phóng quân, tham gia cướp chính quyền tại Hà Nội. Sau đó giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Bảo vệ thành phố Hà Nội. Đầu năm 1946, đi Nam tiến, đến Khánh Hoà được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng miền Nam Trung bộ, năm 1947, làm Tham mưu trưởng Khu 2, trong kháng chiến làm Tổng Tham mưu phó, sau đó giữ cương vị chỉ huy nhiều Đại đoàn chủ lực. Năm 1955, đi học tại Học viện Quân sự Nam Ninh (Trung Quốc), đến tháng 10/1957, làm Hiệu trưởng Trường Văn hoá Quân đội, cuối năm 1964, làm Hiệu phó Trường Cán bộ Chính trị Quân đội, tháng 7/1966, được bổ nhiệm làm Phó Giám đốc kiêm Cục trưởng Cục Quân sự Học viện Chính trị Quân sự, Phó giám đốc Học viện, năm 1979, từ trần.
19. Hoàng Văn Nhủng (Xuân Trường), dân tộc Tày, xã Sóc Hà (Hà Quảng).
Tham gia cách mạng từ năm 1936. Giữa năm 1940, được cử đi học quân sự ở Liễu Châu (Trung Quốc), đầu năm 1944, về hoạt động chủ yếu ở vùng Lục Khu (Hà Quảng). Ngày 22/12/1944, ông được chọn vào ĐVNTTGPQ và được giữ chức Tiểu đội trưởng một tiểu đội. Sau hai trận Phai Khắt, Nà Ngần, Xuân Trường cùng Đội về Lũng Dẻ, củng cố lực lượng rồi tiếp tục hành quân đi đánh đồn Đồng Mu (Bảo Lac), trận đánh diễn ra ác liệt vào đêm 4/2/1945, Xuân Trường chỉ huy một mũi tấn công, chiến đấu rất dũng cảm anh dũng hy sinh, trở thành người liệt sĩ đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
20. Giáp Ngọc Páng (Nông Văn Bê, Thân), dân tộc Nùng, quê Hà Quảng (hiện chưa rõ năm sinh).
Đến làm thuê tại Hoàng Tung (Hoà An). Năm 1943, được giác ngộ cách mạng và gia nhập đội vũ trang địa phương, là đội viên “Đội vũ trang Hộ lương diệt ác” do đồng chí Hoàng Sâm chỉ huy, tiễu trừ Việt gian ở các huyện: Nguyên Bình, Ngân Sơn, Chợ Rã. Tháng 12/1944, được chọn vào ĐVNTTGPQ, tham gia cả ba trận đánh đầu tiên của Đội. Sau Nhật đảo chính Pháp (3/1945), ông được đồng chí uang Trung giao nhiệm vụ đưa vợ chồng Đờ Đông - đồn trưởng Ngân Sơn (đã đầu hàng và giao nộp vũ khí cho cách mạng) đi qua Chợ Rã, lên Bảo Lạc để sang Côn Minh (Trung Quốc), khi đến Bằng Thành (giáp Bảo Lâm hiện nay) không may ông bị hy sinh.
21. Nguyễn Văn Phán (Kế Hoạch, 1910 - 1947), dân tộc Tày, quê Hồng Việt (Hoà An).
Tham gia cách mạng từ năm 1938, đến năm 1941, ông được cử sang Trung Quốc học. Năm 1943, về nước hoạt động tại các xã phía Nam huyện Nguyên Bình. Tháng 12/1944, được chọn vào ĐVNTTGPQ, tham gia đánh các đồn Phai Khắt, Nà Ngần, Đồng Mu. Sau trận Đồng Mu, chỉ huy một bộ phận sang hoạt động tại tỉnh Tuyên Quang. Trong Cách mạng Tháng Tám 1945, tham gia Tổng khởi nghĩa tại Thái Nguyên. Tháng 5/1947, là Tiểu đoàn trưởng đang ở Thái Nguyên, ông và đơn vị về Cao Bằng chuẩn bị ngăn chặn Pháp đánh lên. Ông tiếp tục chỉ huy một Tiểu đoàn chủ lực. Trước khi Pháp nhảy dù một tuần, ông đi họp và bị hy sinh.
22. Ma Văn Phiêu (Bắc Hợp, Đường, Mạc Văn Phiêu, 1912 - 1945), dân tộc Tày, quê Minh Tâm (Nguyên Bình).
Trước khi tham gia cách mạng, ông bị Pháp bắt đi lính đóng tại Lạng Sơn. Khi quân Nhật vào Lạng Sơn, ông sang Trung Quốc gặp cán bộ cách mạng, được giác ngộ và tham gia cách mạng. Năm 1941, ông về hoạt động tại Nguyên Bình. Tháng 8/1944, ông mang bí danh Bắc Hợp, được cử vào Ban Chấp hành Việt Minh Khu J (gồm Nguyên Bình, Ngân Sơn). Tháng 12/1944, ông được chọn vào ĐVNTTGPQ, sau trận đánh Đồng Mu, Ông chỉ huy một Trung đội “Nam tiến” đi Tuyên Quang. Tháng 5/1945, trong trận đánh thổ phỉ đột nhập vào “thủ phủ Tân Trào” tại chân đèo De (xã Phú Đình, huyện Định Hoá, Thái Nguyên), ông bị hy sinh.
23. Đặng Tuần Quý (Dần Quý, 1925 - 1991), dân tộc Dao tiền, quê Tam Kim (Nguyên Bình).
Là người Dao duy nhất trong Đội, tham gia cách mạng từ 1942. Từ năm 1942 - 1944, chủ yếu hoạt động ở vùng đồng bào Mông, Dao (Nguyên Bình). Khi ĐVNTTGPQ thành lập, ông được chọn vào Đội và đã tham gia ba trận đánh ở đồn Phai Khắt, Nà Ngần, Đồng Mu. Sau trận Đồng Mu, ông hoạt động tại địa phương. Năm 1946, ông làm xã đội trưởng xã Hưng Đạo, năm 1959, ông làm đội trưởng sản xuất hợp tác xã Tam Kim. Năm 1980, ông nghỉ công tác.
24. Lương Quý Sâm (Lương Văn Ích, Nông Văn Ích, 1914 - 1990), dân tộc Nùng, quê Nà Sác (Hà Quảng).
Năm 1940, tham gia cách mạng, năm 1941, ông cùng Đội du kích Pác Bó bảo vệ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và cán bộ Trung ương. Bí danh Lương Văn Ích do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đặt. Từ năm 1940 - 1944, ông hoạt động ở vùng Lục Khu (Hà Quảng). Ngày 22/12/1944, ông được chọn vào ĐVNTTGPQ. Trong trận đánh đồn Đồng Mu, ông phụ trách một tiểu đội. Giữa năm 1945, ông làm Trung đội trưởng Giải phóng quân tỉnh Bắc Kạn, sau đó đi Tây Tiến. Tháng 3/1948, ông được kết nạp vào Đảng. Sau kháng chiến chống Pháp, ông làm Trưởng ban Dân quân Tỉnh đội Yên Bái. Năm 1959, ông lên Lào Cai xây dựng lực lượng Công an vũ trang, năm 1963 là thiếu tá Chỉ huy trưởng Công an vũ trang tỉnh Lào Cai. Được một năm, ông chuyển làm Viện phó rồi Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai. Năm 1979, chuyển về Yên Bái. Đầu 1980 đột ngột qua đời.
25. Hoàng Văn Súng (La Thanh, 1916 - 1962), dân tộc Nùng, quê Trường Hà (Hà Quảng).
Gia đình Hoàng Văn Súng là cơ sở cách mạng chí cốt, 16 tuổi, ông đã là hội viên tích cực của Hội phản đế, từ đó, ông luôn có mặt trong nhóm bí mật của các đồng chí: Lê Quảng Ba, Quốc Vân, Hoàng Sâm. Năm 1940, ông là Tổ trưởng Tổ Cứu quốc. Tháng 8/1940, ông được kết nạp vào Đảng. Ngày 28/1/1941, ông được lên mốc 108 đón lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước. Tháng 5/1941, nhà ông là nơi đón tiếp đại biểu về dự Hội nghị Trung ương lần thứ VIII tổ chức tại Pác Bó, xã Trường Hà (Hà Quảng) từ ngày 10 - 19/5/1941. Ông là Trưởng trạm giao liên đưa đón cán bộ an toàn từ năm 1941 - 1943, trợ thủ đắc lực cho nhóm các đồng chí Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm…, tiễu phỉ ở Lục Khu (Hà Quảng). Ngày 22/12/1944, ông được chọn vào ĐVNTTGPQ, đã tham gia cả ba trận đánh Phai Khắt, Nà Ngần, Đồng Mu. Năm 1953, do sức khoẻ yếu, ông phục viên về làm Xã đội trưởng xã Trường Hà, năm 1962, ông mất tại quê nhà.



