25- HY SINH KHI VÀO TRƯỜNG SƠN TÌM CÁCH ĐÁNH B52
Sau thời gian dài tìm hiểu, mãi đến tháng 7.2021, tôi mới liên lạc được với chủ nhân của trang blog nói trên khi anh chuyển sang Facebook. Đó là anh Phạm Cường, sinh năm 1954, quê ở làng Lai Xá, xã Kim Chung, H.Hoài Đức, Hà Nội, từng nhiều năm làm đạo diễn ở Hãng phim Tài liệu-Khoa học Trung ương (từng là đạo diễn biên kịch của 30 bộ phim nhựa) và hiện định cư cùng gia đình ở Hamburg, Đức.
Qua trao đổi với tôi, anh Phạm Cường cho biết người anh trai liệt sĩ của anh trong câu chuyện kể trên là anh Phạm Uy, sinh năm 1940, tuổi Tân Tỵ. Làng Lai Xá, Hoài Đức ven Hà Nội vốn nổi tiếng về nghề nhiếp ảnh "cha truyền con nối" từ thời xưa, nổi tiếng nhất là các hiệu ảnh của cụ Phúc Lai. Bố của các anh Phạm Uy, Phạm Cường là cụ Phạm Văn Uyển, từ năm 13 tuổi đã ra tỉnh học và làm việc trong hiệu ảnh của cụ Phúc Lai Nguyễn Văn Đính vào năm 1924. Khi cụ Phúc Lai xuống Hải Phòng mở hiệu ảnh, cụ Uyển theo xuống đó 10 năm. Sau này, một chi nhánh của hiệu ảnh Phúc Lai khai trương ở góc đường Tràng Thi - Phủ Doãn, Hà Nội là tiệm ảnh Hanoi Central Photo, số nhà 22 Tràng Thi thì cụ Phúc Lai cử cụ Uyển về làm thợ cả và cư trú trong một căn hộ trên gác 2 tiệm ảnh suốt nhiều năm. Khi anh Phạm Uy đủ tuổi đi học thì được cụ Uyển đón từ quê Lai Xá ra Hà Nội để học.
Ôn lại ký ức về người anh liệt sĩ, anh Phạm Cường cho biết thêm: "Anh Phạm Uy ra Hà Nội học cho tới khi tốt nghiệp trung học ở Trường Bưởi vào loại giỏi, chuẩn bị lên đại học thì đúng lúc đó mẹ tôi ở quê gặp chuyện đau yếu. Thương mẹ ở quê bị thương tật do Tây bắn vì can tội tiếp tế và che giấu cho Việt Minh vào năm 1951, nay lại gặp hoạn nạn, anh Uy bỏ Hà Nội về quê Lai Xá, ở nhà lao động giúp mẹ luôn cho tới khi nhập ngũ năm 18 tuổi".
Anh Phạm Uy nhập ngũ ngày 26.3.1959, thuộc lứa nghĩa vụ quân sự đầu tiên ở miền Bắc. Ngày anh Uy lên đường vào bộ đội, anh Cường chưa đầy 5 tuổi nên không nhớ được gì. Trước đó 2 hôm, mẹ của các anh phải đi dân công đắp đê quai sông Hồng ở Giày (Đan Hoài) không về được, nên tiễn anh Uy đi chỉ có mấy anh chị em trong nhà.
Do anh Phạm Uy tốt nghiệp Trường Bưởi - Chu Văn An vào loại giỏi nên anh được vào học Trường Sĩ quan Phòng không (Trường 400) ở Sơn Tây. Tốt nghiệp hạng ưu nên được phong thiếu úy và giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy. Khi chiến tranh phá hoại của Không quân Mỹ nổ ra, Phạm Uy là một trong những người đầu tiên sang thành lập Trường 300 (Sĩ quan Cao xạ và Tên lửa). Đầu năm 1971, anh Uy, lúc ấy là thượng úy, đã tham gia cùng đoàn 17 sĩ quan của Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân đi bộ theo dọc các trọng điểm B52 đánh phá theo tuyến đường 559 xuyên Trường Sơn, để nghiên cứu cách đánh "pháo đài bay". Đoàn sĩ quan vừa đi vừa viết báo cáo gửi về Bộ Tư lệnh ở Hà Nội.
Anh Phạm Cường cho biết sau khi hoàn thành nhiệm vụ, trên đường trở lại ra Bắc, anh Phạm Uy bị sốt rét ác tính phải đưa vào bệnh viện dã chiến điều trị ở rừng Trường Sơn. Thật không may, khi máy bay Mỹ ném bom khu vực này ngày 15.5.1972, anh Phạm Uy trúng bom bi và một viên bi chui vào hộp sọ. Sau 4 ngày liền hôn mê, đến ngày 19.5.1972, anh trút hơi thở cuối cùng. Anh được đồng đội chôn cất ở Trường Sơn và cuối năm 1975, khi Nghĩa trang Trường Sơn ở Gio Linh, Quảng Trị được thành lập thì anh là một trong những liệt sĩ đầu tiên được quy tập về. Sau chiến tranh, một thông tin cho biết chính kết quả thu hoạch được từ những báo cáo của đoàn sĩ quan 17 người (trong đó có anh Phạm Uy) đi vào chiến trường trong các năm 1971-1972, đã góp phần làm nên trận Điện Biên Phủ trên không đánh tan các "pháo đài bay" B52 cuối năm 1972 ở Hà Nội. Thực tế này cho thấy quyết định cử đoàn sĩ quan này vào chiếc trường nghiên cứu cách đánh B52 là chủ trương sáng suốt, nhìn xa trông rộng của quân chủng Phòng không - Không quân Việt Nam.
Anh Phạm Cường ngậm ngùi chia sẻ: "Sau khi anh Phạm Uy hy sinh, gia đình tôi nhận được kỷ vật của anh là chiếc ba lô con cóc do đơn vị chuyển về, trong đó có cuốn nhật ký di cảo của người đã khuất. Trong nhật ký, anh tôi viết sau khi hoàn thành nghĩa vụ với Tổ quốc sẽ trở về cuộc sống đời thường, đỡ đần mẹ già bị thương tật do chiến tranh và gánh vác các công việc nặng nhọc của người anh lớn trong gia đình. Vậy mà anh tôi đi mãi và không bao giờ thực hiện được những ước muốn tưởng như vô cùng bình dị đó. Sau này, hài cốt anh chỉ trở về trong chiếc ba lô con cóc vào lúc tờ mờ một sáng mùa đông lạnh giá cuối năm 1976. Và, tôi đã ngồi bên di cốt anh để cạnh gốc cây sấu già góc đường Tràng Thi - Phủ Doãn, Hà Nội từ 4 đến 7 giờ sáng để hai người anh của tôi chợp mắt lấy lại sức sau mấy ngày đêm vào Nghĩa trang Trường Sơn ở Gio Linh, Quảng Trị để đón anh Phạm Uy về quê Lai Xá".
Trong 2 trang nhật ký viết về ngày nhập ngũ, Phạm Uy còn thao thức trong nỗi nhớ thương người mẹ thân yêu của mình: "Những ngày chờ đợi. Đây những ngày gần đến. Đây những ngày chờ. Đây những ngày sắp sửa lên đường nhập ngũ Q.Đ.N.D.V.N vinh quang 18-20-22…24… Sự diễn biến tư tưởng, tình cảm trầm bổng như một khúc nhạc đợi chờ, lúc nóng ruột, khi thì lo lắng, khi thì băn khoăn, khi lại chán ngán, buồn, đắn đo suy nghĩ… Tất cả dồn tới, dồn tới ngày 26-3-1959, ngày lên đường, kết thúc bản trường ca "Đợi chờ". 26-3-1959, ngày tôi lên đường bàng hoàng, lo âu, cảm động. Tôi lên đường khi gia đình chưa thỏa mãn. Đó là tất nhiên! Tôi lên đường để lại mẹ yêu, mẹ năm nay đã già, thương tật đã cướp đi phần lớn sức khỏe. Mẹ ạ! Con thương mẹ, mẹ cũng thương con, con lên đường 3 năm hay hơn nữa theo yêu cầu của Tổ quốc, mẹ cũng cứ yên tâm, con mong mẹ yên tâm, con đi, con sẽ lớn, mẹ ở nhà yên tâm là điều an ủi con. Mẹ ạ! Con biết rằng hôm nay mẹ yêu quý của con đang âm thầm đau khổ, con đi mẹ già sẽ khó nhọc hơn. Mẹ ơi! Mẹ thương con không phải trong giọt lệ, con thương mẹ không phải bằng tiếng than! Nhưng sao mẹ và cả con nữa đều rơi lệ. Hôm nay xa mẹ. Hôm nay con đi, mẹ còn ở nơi đê xa, mẹ đang phải gánh công việc mà tuổi mẹ không phải làm. Con đi giữa tiếng hoan hô, tiếng trống tiếng chúc mừng của nhân dân thì mẹ yêu quý của con đang nặng gánh đất trên vai leo dốc đê… mẹ chịu khổ thay con của mẹ. Mẹ ạ! Hôm nay, chiều hôm nay 26-3-59 (18-2 Kỷ Hợi) con đi giữa tiếng chúc mừng sức khỏe của mọi người, trong đó con lắng nghe thấy vắng tiếng mẹ nhưng không phải không đâu! Nơi xa quê, nơi đê, mẹ cũng đang cầu mong cho con mình sức khỏe. Mẹ ơi! Mẹ là người đáng quý vô cùng. Con hiểu mẹ hôm 24-3 (16-2) đêm hôm đó mẹ lặng lẽ ra đi nơi sương lạnh thì con vẫn ấm cúng trong chăn…".
Những dòng chữ âm thầm trong trang nhật ký của Liệt sĩ Phạm Uy vẫn còn tươi rói sau nửa thế kỷ anh hy sinh vì Tổ quốc.



