Bài viết

27 (2)

Lạng Sơn02/07/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

òa bình hôm nay được đánh đổi bằng những mùa xuân không trở lại của hàng triệu bà mẹ Việt Nam. Trong mạch nguồn thiêng ấy, mẹ Nguyễn Thị Thứ (1904 - 2010, thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, Quảng Nam) hiện lên như một tượng đài bất tử: chín người con trai, hai cháu ngoại và một con rể ngã xuống vì độc lập, tự do, mười hai liệt sĩ từ một mái nhà tranh cát trắng của mẹ. Tiếng ru của mẹ hòa trong bom đạn, nuôi lớn những trái tim quả cảm. Dáng hình gầy guộc của mẹ là hiện thân của ý chí bền bỉ, lòng yêu nước thầm lặng mà vĩ đại, di sản tinh thần cần được gìn giữ và lan tỏa bằng hành động mỗi ngày.

Sinh ra và lớn lên giữa miền Trung nắng gió, mẹ Nguyễn Thị Thứ sớm thấm thía thế nào là nỗi cơ cực của một đời lam lũ. Mười tám tuổi, mẹ nên duyên với ông Lê Tự Trị, một người nông dân hiền hậu, chất phác. Mười hai lần vượt cạn là mười hai lần mẹ đón lấy niềm vui xen lẫn nỗi lo canh cánh vì cái nghèo đeo bám. Thế rồi, khi thực dân Pháp tái xâm lược, khói lửa chiến tranh kéo về từng làng quê, ông Trị và các con trai lần lượt gia nhập du kích. Trước hiên nhà lợp rơm xứ Quảng, mẹ nhẹ tay buộc dải khăn đỏ lên vai con, không khóc, chỉ dặn: “Còn nước mình thì còn nhà mình.” Từ đó, từng đứa con lần lượt ra đi và không trở lại. Người con thứ ba, Lê Tự Xuyến, giao liên, hy sinh năm 1948. Chưa đầy mười ngày sau, người con thứ tư, Lê Tự Hàn, cũng ngã xuống khi đang tải thương. Cùng tháng đó, người con thứ năm, Lê Tự Hãn, hy sinh trên mặt trận Điện Bàn. Đầu tháng 4 năm 1954, đến lượt người con thứ sáu, Lê Tự Lem, ra đi khi mới vừa tròn hai mươi tuổi. Năm 1966, người con thứ bảy, Lê Tự Nự, bỏ mình ở mặt trận Khu 5. Mùa hè đỏ lửa năm 1972, hai người con, Lê Tự Mười và Lê Thượng Trịnh, cùng hy sinh. Và mẹ Thứ từng khấp khởi mong ngày người con trai cả, anh Lê Tự Truyện, trở về khi chiến dịch giải phóng Sài Gòn tiến đến hồi kết. Nhưng khoảng 9 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh Truyện, chiến sĩ tham gia tiến công vào nội đô, đã anh dũng hy sinh ngay tại cửa ngõ Sài Gòn, chỉ vài giờ trước thời khắc đất nước hoàn toàn thống nhất.Không chỉ các con, con rể của mẹ, ông Ngô Tường, cũng bị giặc Pháp tra tấn đến kiệt sức và qua đời năm 1956. Hai cháu ngoại, Ngô Thị Cúc và Ngô Thị Điều, lần lượt hy sinh trong mưa bom đạn những năm 1973 và 1974, khi tuổi đời còn rất trẻ. Mỗi tờ giấy báo tử như một nhát dao cứa sâu vào lòng mẹ. Nhưng mẹ không gục ngã. Mẹ cắn răng chịu đựng, nuốt nước mắt vào trong, âm thầm biến đau thương thành lửa, lửa của lòng tin yêu đất nước, lửa của một trái tim không khuất phục, lửa nung chảy nỗi căm thù để tiếp tục tiếp sức cho kháng chiến.Không chỉ tiễn con, mẹ còn trực tiếp làm “pháo đài sống” giữa hậu phương. Vườn nhà được mẹ và con gái cả Lê Thị Trị bí mật đào ba căn hầm sâu, nguỵ trang bởi bụi tre và gốc mít. Nơi đó, cán bộ Khu 5 họp bàn tác chiến, thương binh trú ngụ, vũ khí tạm cất giấu trước khi xuất kích. Cựu chiến binh Lê Tự Tân kể: “Tôi chui xuống hầm thấy nồi cơm đồng to như cái nia, khói thơm mùi lúa mới. Mẹ bưng gáo cơm chuyền từng tay, hơi ấm ấy xua tan mưa gió Phước Hà”. Địch càn quét, mẹ khoác nón lá, ẵm bó cỏ giả vờ chăn bò để xóa dấu cửa hầm. Đêm đến, bên ngọn đèn dầu tù mù, mẹ khâu vá áo trận, gói cơm nắm, trộn muối rang tiếp tế. Cuối năm 1948, ba khăn tang liên tiếp phủ tóc bạc, song mẹ vẫn viết thư cho đơn vị: “Con ơi, mẹ còn đất, còn lụa chôn nhau, đừng chùn bước”. Lời nhắn ấy đi suốt chiến trường, tiếp sức cho bao quân nhân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn