“300 NGÀY ĐÊM ĐI GIỮA BÃI BOM ĐỒNG LỘC”
Năm 1965, khi vừa tròn 20 tuổi, Nguyễn Tri Ân tình nguyện gia nhập lực lượng thanh niên xung phong. Cuối năm 1967, ông được điều về khu vực phía nam Ngã ba Đồng Lộc, làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông. Khi máy bay Mỹ tăng cường đánh phá, ông được lựa chọn vào tổ rà phá bom mìn. Trong khoảng 300 ngày đêm, Nguyễn Tri Ân cùng đồng đội nhiều lần bước vào những bãi bom để tìm và phá bom nổ chậm, san lấp hố bom, mở đường cho xe chi viện vào chiến trường miền Nam. Ông 15 lần bị bom vùi nhưng vẫn trở lại mặt đường tiếp tục nhiệm vụ.
Năm 1965, chàng trai Nguyễn Tri Ân, quê Sơn Lộc, Can Lộc, mới vừa bước sang tuổi 20. Chứng kiến quê hương bị bom Mỹ đánh phá, ông tình nguyện gia nhập lực lượng thanh niên xung phong.
Những ngày đầu, ông làm nhiệm vụ bốc vác lương thực tại Hương Khê, sau đó tham gia khai thác đá, làm đường và san lấp hố bom ở Cẩm Xuyên. Cuối năm 1967, ông được điều về phụ trách tuyến đường từ Khe Út đến Khe Giao, phía nam Ngã ba Đồng Lộc.
Đầu năm 1968, bom đạn ngày càng dày đặc. Những quả bom nổ chậm và bom từ trường trở thành mối nguy hiểm thường trực đối với các đoàn xe và lực lượng bảo đảm giao thông.
Tổng đội TNXP yêu cầu mỗi đại đội lựa chọn những người có kinh nghiệm để thực hiện nhiệm vụ rà phá bom mìn. Nguyễn Tri Ân là một trong ba người của C553 được lựa chọn.
Công việc của ông không phải chỉ là đối diện với một quả bom.
Mỗi ngày, sau những trận oanh kích, ông cùng đồng đội phải tìm kiếm bom chưa nổ, xác định vị trí, xử lý chúng rồi nhanh chóng khôi phục mặt đường. Có những ngày vừa hoàn thành việc phá bom, máy bay lại xuất hiện và con đường vừa được sửa lại tiếp tục bị cày xới.
Nguyễn Tri Ân nhớ về những ngày tháng ấy bằng những ký ức không thể nào quên. Ông từng 15 lần bị bom vùi, nhưng sau mỗi lần thoát chết lại tiếp tục trở ra mặt đường. Trong thời gian chiến đấu tại Đồng Lộc, ông trực tiếp rà phá 202 quả bom nổ chậm.
Điều đáng trân trọng là nhiệm vụ của những người phá bom không chỉ bảo vệ tính mạng của chính họ. Phía sau mỗi quả bom được xử lý là những đoàn xe đang chờ đi qua.
Nếu đường bị tắc, hàng hóa, vũ khí và bộ đội không thể kịp thời vào chiến trường.
Vì vậy, những người như Nguyễn Tri Ân phải luôn chạy đua với thời gian.
Bom ném ở đâu, lực lượng TNXP có mặt ở đó.
Đường bị phá ở đâu, họ lập tức san lấp.
Bom chưa nổ ở đâu, họ tìm cách vô hiệu hóa.
Đó là một cuộc chiến âm thầm nhưng vô cùng khốc liệt.
Điều đặc biệt trong ký ức của Nguyễn Tri Ân
Nhiều năm sau chiến tranh, khi trở lại Đồng Lộc, ông không chỉ nhớ đến những ngày phá bom mà còn nhớ đến những đồng đội đã không trở về.
Theo lời kể được VietnamNet ghi lại năm 2026, ông cho biết đơn vị mình cũng có 10 người hy sinh trong chiến tranh. Những người đồng đội ấy được chôn cất vội vàng ngay bên trận địa; nhiều năm sau, ông vẫn day dứt không biết tất cả đã được tìm thấy và trở về quê hương hay chưa.
Đó là một chi tiết rất có giá trị khi xây dựng câu chuyện “Thời hoa lửa”: với người trở về, chiến tranh không kết thúc hoàn toàn vào ngày tiếng súng ngừng vang. Những người đồng đội đã mất vẫn sống trong ký ức của họ.
Năm 2018, Nguyễn Tri Ân cùng các cựu TNXP trở lại Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc để tưởng nhớ những đồng đội đã hy sinh. Báo chí khi đó xác nhận ông là một trong những nhân chứng sống từng trực tiếp chiến đấu tại Đồng Lộc, cùng với Anh hùng La Thị Tám và Anh hùng Uông Xuân Lý.
Thông điệp
Câu chuyện của Nguyễn Tri Ân không chỉ kể về 202 quả bom được rà phá hay 15 lần bị bom vùi.
Đó là câu chuyện về một thế hệ thanh niên đã đặt nhiệm vụ của Tổ quốc lên trên sự an nguy của bản thân.
Họ không cầm súng trực tiếp trên chiến hào, nhưng họ chiến đấu bằng cuốc, xẻng, máy móc và đôi bàn tay giữa những bãi bom.
Và chính họ đã góp phần giữ cho con đường qua Đồng Lộc không bị đứt mạch.
“Có những con đường được làm nên bằng đất đá, nhưng cũng có những con đường được giữ thông bằng máu, mồ hôi và tuổi xuân của một thế hệ.”



