Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

33 NGÀY ĐÊM PHÒNG NGỰ TRÊN ĐỒI A1

Đoạn hồi ức tái hiện cuộc chiến đấu phòng ngự kiên cường và đầy gian khổ của Tiểu đoàn 255 trên đồi A1 từ ngày 4/4 đến 6/5/1954 để giữ vững bàn đạp cho trận tổng công kích cuối cùng. Giữa điều kiện khắc nghiệt của "tử địa" — nơi hầm hào đầy bùn đất và xác tử sĩ, bị pháo cối địch bắn phá tàn khốc — cán bộ và chiến sĩ tiểu đoàn đã thể hiện ý chí sắt đá qua việc đào hệ thống công sự kiên cố, tổ chức bắn tỉa và đẩy lùi nhiều đợt phản kích ác liệt của địch. Không chỉ bảo vệ an toàn cho tổ công binh đ

Lai Châu03/03/2026Ban Biên tập tổng hợp1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau hai đợt tấn công không thành công của trung đoàn 174 và trung đoàn 102, tiểu đoàn 255 (gọi tắt là tiểu đoàn 5) của trung đoàn 174 được lệnh thay thế trung đoàn 102 và tổ chức phòng ngự một phần ba quả đồi A1 mà quân ta đã chiếm được để giữ vững và cải thiện bàn đạp tiến công, tích cực chuẩn bị cho lần đánh thứ ba (từ 4/4 đến 6/5).

Địch có một tiểu đoàn vẫn giữ được 2/3 quả đồi, địa thế cao hơn, quân mới được thay thế; bọn chỉ huy có kinh nghiệm đánh phản kích và dùng hoả lực pháo cối đánh chặn đường tiến của quân ta, nhưng cũng khiếp đảm trước các đợt xung phong mãnh liệt của bộ đội ta.

Tiểu đoàn 5 được bổ sung quân số, vũ khí đầy đủ; 80% là tân binh (đa số với tân binh địch hậu đã quen với chiến trận), 50% cán bộ trung đội, đại đội mới được đề bạt lên nhưng đều trưởng thành trong chiến đấu. Mỗi đại đội đều có một chi bộ. Trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An phổ biến kinh nghiệm trận đánh đợt đầu, nhấn mạnh địch sẽ giành giật quyết liệt phần đất đã mất nên phải đào hầm hào thật tốt, tổ chức các trận địa liên hoàn giữa đồi A1, đồi Cháy, đồi F, kết hợp chặt chẽ giữa hoả lực và lực lượng cơ động. Trung đoàn sẽ cung cấp gỗ làm nắp hầm hào, hỗ trợ hoả lực của trung đoàn, đại đoàn, đảm bảo thông tin giữa các trận địa.

Theo kế hoạch của tiểu đoàn, C925 được bố trí trên đồi A1. C924 trên đồi Cháy có một trung đội cơ động sẵn sàng tăng cường cho A1. C653 bố trí một trung đội trên đồi F, còn lại làm lực lượng cơ động cho tiểu đoàn. C926 trợ chiến, bố trí ở đồi Cháy, nhiệm vụ đào công sự rất nặng nề: đường giao thông hào nối giữa các trận địa, hai đường hào từ suối cạn lên đồi A1, trên mỗi trận địa phải có hệ thống hầm chiến đấu ngang dọc, hầm hào phải có nắp chịu được pháo 155 ly và cối 120 ly. Giao thông hào phải đủ rộng để cơ động bộ đội, tiếp tế, tải thương. Phải có hầm cho các loại vũ khí, hầm ở chân đồi để bộ đội luân phiên nghỉ ngơi. Chỉ huy sở của tiểu đoàn do công binh đào. Tôi bị ngợp trước khối lượng đào hầm hào, chưa kể đến việc phải đối phó hàng ngày, hằng giờ với hoạt động của địch. Tôi nghĩ đến vấn đề quyết định để hoàn thành nhiệm vụ lúc này là khả năng tổ chức của cán bộ và công tác động viên cán bộ, chiến sĩ hết lòng vì nhiệm vụ. Thực tế sau này đã chứng minh trong chiến tranh, người cán bộ, chiến sĩ được động viên tốt có thể làm nên những điều kỳ diệu, có khi không tưởng tượng là con người có thể làm được.

Khi trung đoàn 102 bắt đầu rút, tiểu đoàn chia ngay 2 tiểu đội của C925 vào cắm hai chốt sát địch. Ngay trong đêm phải đào được hầm chiến đấu, hầm ẩn nấp và hầm trung liên. Lực lượng này được hoả lực của tiểu đoàn, trung đoàn sẵn sàng yểm trợ. Ngay ngày hôm sau địch dùng pháo cối yểm trợ cho một mũi thọc sang để hòng đẩy lực lượng của ta ra khỏi A1 nhưng ta đã kịp thời dùng pháo cối, đại liên bắn chặn rất quyết liệt, buộc địch phải co lại. Việc đào công sự do đó rất khó khăn và không bảo đảm được an toàn. Cán bộ tiểu đội và chiến sỹ đề xuất ý kiến phải làm con lăn bằng rơm thì mới tránh được đạn bắn thẳng từ đỉnh đồi.

Việc đào hầm hào trên đồi A1 rất khó khăn và phức tạp nhất. Hào giao thông của địch sâu 1m70 đã bị pháo của ta, của địch bắn sập hết, chôn vùi nhiều xác chết. Cuộc tấn công từ đêm 30-3 đến lúc này đã 5-6 ngày, thỉnh thoảng lại có trận mưa rào ngắn, nên xác chết bắt đầu thối rữa, ruồi nhặng từng đàn, mùi hôi thối nồng nặc. Căn cứ vào thực tế địa hình, có đoạn hào chúng tôi đào mới, có đoạn phải khơi lại hào cũ của địch, cũng có chỗ phải dùng lại lô cốt cũ. Nghĩa là không thể tránh được việc mà cán bộ, chiến sĩ ngại nhất là giải quyết xác chết. Chúng tôi dồn xác địch vào mấy ngách hào đất lấp còn nông và đổ đầy đất lên. Đặc biệt còn một số tử sĩ của ta còn sót lại (nhận dạng bằng đôi giày vải hoặc đôi dép cao su), chúng tôi lấy vải dù bọc lại và chuyển về sau. Không thể tưởng tượng nổi sự chịu đựng gian khổ của cán bộ, chiến sỹ. Công tác chính trị đã thành công trong việc động viên tinh thần tự giác vì nhiệm vụ của bộ đội. Lấy một ví dụ: Yêu cầu của tiểu đoàn là mài xẻng thật sắc để đào công sự được nhanh, được chiến sĩ biến thành khẩu hiệu “Mài xẻng sắc cạo râu được”.

Sự phản ứng của địch rất ác liệt: Cối 120 ly bắn thường xuyên, pháo Hồng Cúm nhằm vào đỉnh đồi Cháy, đồi F và đường tiến quân từ phía sau lên. Ngày nào cũng có thương vong. Chân tay dầm bùn ngâm xác chết mà không có nước rửa. Phải dùng vải dù để lau tay, bọc tay để cầm cơm nắm hoặc dùng đũa, dùng bát. Trung đoàn phải tiếp tế nước để mỗi ngày chiến sĩ trên đồi A1 được rửa tay chân một lần, ba ngày được tắm một lần (thực ra được một chậu nước đủ để lau người).

Đồi F thấp hơn đồi A1, trực tiếp bị hoả lực bắn thẳng của địch trên đỉnh đồi A1 nên việc đào trận địa ở đây cũng rất khó khăn, bị thương vong nhiều. Ngay khi trận địa đã được hoàn thành, việc đi lại cũng rất nguy hiểm, cán bộ, chiến sĩ gọi đồi F là “tử địa”.

Đồi Cháy có trận địa hoả lực của tiểu đoàn trực tiếp uy hiếp đỉnh đồi A1, là cái gai trước mắt địch, nên ngoài pháo, chúng còn dùng máy bay ném bom để huỷ diệt. Một lần ném bom không trúng, bom rơi xuống sườn đồi trúng hầm chỉ huy của C924 lúc chi uỷ đang họp, tất cả hy sinh. Đây là thiệt hại đau đớn nhất của tiểu đoàn trong thời gian phòng ngự.

Hai đường hào song song tiến gần vào các lô cốt của địch. Việc bám sát địch ngày đêm giúp ta đẩy lùi nhiều lần địch đánh lấn sang ta. Trong chiến đầu phòng ngự hai bên tiếp cận nhau thì sẵn sàng chiến đấu rất cao mới đảm bảo thắng lợi. Vũ khí sử dụng là lựu đạn và tiểu liên của lực lượng phía trước, và muốn giữ vững và cải thiện thế phòng ngự, phải kết hợp với tấn công. Việc tổ chức bắn tỉa những tên địch ló đầu ra hoặc di chuyển ngoài công sự đạt hiệu quả lớn.

Giữa tháng 4, chúng tôi nhận được kế hoạch đánh hầm ngầm trên đỉnh đồi A1: Công binh sẽ đào bí mật một đường hầm tới hầm ngầm của địch và dùng một tấn thuốc nổ để đánh sập hầm đó. Tiểu đoàn 5 có nhiệm vụ bảo đảm an toàn trong suốt quá trình đào cho đến khi bộc phá nổ, đồng thời giúp đỡ công binh làm nhiệm vụ (chuyển gần 60m3 đất ra phía sau). Ngày 20/4/1954 khởi công đào, lúc đầu định kích thước có thể đi khom được, nhưng thực tế càng sâu vào càng khó đào nên kích thước càng hẹp lại. Địch dùng súng phóng lựu AT bắn tới tấp về phía cửa hầm. Ngay đêm đầu, bộ phận của d5 làm nhiệm vụ canh gác bảo vệ cho công binh đào đã có tổn thất. Đồng chí trung đội trưởng bộ binh bị địch bắn trúng đã hi sinh. Tôi bố trí một tiểu đội toàn cựu binh do một trung đội trưởng chỉ huy được trang bị đầy đủ tiểu liên và lựu đạn, sẽ chiến đấu sống chết với địch, không để địch lọt xuống phá cửa hầm. Để đánh lạc hướng chú ý của địch, chúng tôi nghi binh ở hướng hào cụt phía bắc, thường tập kích bằng hoả lực các lô cốt của địch. Đặc biệt trận tấn công đánh chiếm hai ụ súng số 7 và số 8 của địch đêm 1/5/1954, tổ ba người chiếm được 2 ụ đó thì 2 bị hy sinh, chỉ còn 1 người bị thương nhưng vẫn chiến đấu giữ cho được đến khi được tổ thứ hai lên tăng viện.

Trong 33 ngày đêm phòng ngự căng thẳng trên đồi A1, d5 đã phải đánh lại 4 lần phản kích lớn của địch. Chính trị viên tiểu đoàn Đỗ Long đã nắm vững nhiệm vụ và những chỉ thị của trung đoàn, là khéo léo đưa ra những khẩu hiệu thiết thực, kịp thời phát động được tinh thần tự giác dũng cảm, không sợ hy sinh gian khổ của cán bộ, chiến sĩ. Không thể quên được chính trị phó tiểu đoàn Trần Quế, thường trực ở phía sau lo cơm nước, vận chuyển được áo quần, giầy dép, tân binh bổ sung, thương binh tử sĩ (hàng trăm người, nên khá phức tạp). Đóng góp phần quan trọng vào thắng lợi, nhưng thường ít được nhắc đến: tiểu đoàn phó Dương Bắc Bình mới được bổ sung nhưng phải lăn ngay vào cuộc chiến đấu, cùng với đại đội trưởng Lương Văn Tài (sau Nguyễn Khắc Huy thay) và đại đội phó Lê Quyên tham gia vào mọi hoạt động của đơn vị, khi địch tấn công sang cũng chiến đấu như các chiến sĩ. Ở trên đồi A1, sống chết chỉ gang tấc, không thể chỉ tay năm ngón, mà mọi cấp cán bộ phải hoà vào cuộc sống và chiến đấu của chiến sĩ thì mới có thể chỉ huy được. Rồi biết bao người dũng cảm khác như y tá Hiểu, chiến sĩ liên lạc Thà, tiểu đội trưởng Si dân tộc Tày đã nhiều lần cứu tôi thoát chết, được đề bạt lên trung đội phó nhưng không nhận vì làm tiểu đội trưởng vừa với khả năng hơn. Để phát huy thêm hiệu quả tiêu diệt địch, ta đã tổ chức các chiến sĩ bắn giỏi thành các tổ bắn tỉa tiêu hao địch khá nhiều, làm cho địch căng thẳng khiếp sợ. Một hôm thiếu tá Bigia lên đồi A1, được trung uý Buốc-gioa đưa đến quan sát một lỗ châu mai. Tên trung uý vừa ló mặt ra đã bị một viên đạn trúng đầu. Bigia cũng suýt chết vì viên đạn thứ hai.

Cho nên trước khi vào trận đánh thứ ba, tiểu đoàn 5 phòng ngự đã cải thiện được và củng cố thêm địa bàn tấn công: lấn chiếm thêm được 2 ụ súng của đich, chiếm thêm được một đoạn giao thông hào ngang về phía địch làm chỗ triển khai xung phong cho d9.

Đến ngày 5/5/1954 thì đào xong đường hầm dài khoảng 50 mét. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định lấy tiếng nổ của quả bộc phá 1.000kg vào 20 giờ 30 ngày 6/5/1954 làm hiệu lệnh tấn công của cả mặt trận. Bộ phận cuối cùng của tiểu đoàn tôi phụ trách bảo vệ cửa hầm rút trước giờ “G” 5 phút. Mọi người chờ đợi một tiếng nổ long trời, nhưng thực tế chỉ có một tiếng “ục” trong lòng đất, đá tung lên trời và rơi xuống ào ào. Đại uý Pu-giê người chỉ huy cứ điểm đồi A1 viết hồi ký: “Lúc 20 giờ 30 mìn nổ. Trước tiên một sự rung chuyển chạy suốt mỏm đồi và một tiếng nổi át các tiếng động khác, tiếng động kéo dài vài giây với âm lượng trầm. Đỉnh đồi bị vẹt, vị trí của đại đội 2 mất tăm. Quân Việt Nam vào mở cửa chiếm miệng phễu trên đỉnh bên trên chúng tôi. Một lúc sau tôi mới hiểu rõ tình thế”.

Đến 4 giờ 30 sáng 7/5/1954, tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 9 trung đoàn 174 hoàn toàn làm chủ đồi A1. Địch thú nhận từ 30/3/1954 đến 7/5/1954 đã mất 4 tiểu đoàn trên đồi A1.

Đại đoàn 316 đánh giá tiểu đoàn 255 “đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phòng thủ”. Tiểu đoàn đã góp phần vào chiến thắng oanh liệt trên đồi A1, quả đồi mãi mãi đi vào lịch sử của chiến dịch Điện Biên Phủ.

*

33 ngày đêm phòng ngự của d255 trên đồi A1 đã để lại trong tôi biết bao kỉ niệm về các trận đánh vô cùng ác liệt, về các đồng đội của tôi ở tiểu đoàn, về các đơn vị bạn. Những kỉ niệm tản mạn nhưng không thể nào quên.

Công binh đào cho chúng tôi một hầm sâu 6-7m vào sườn đồi phía sau. Có khó khăn là ngay cửa hầm có xác một thằng Pháp. Nếu đào tắt để lấy được xác nó đưa đi chôn nơi khác thì cửa hầm sẽ quá to, không an toàn (cửa hầm hướng về phía Hồng Cúm, có thể bị pháo). Tôi quyết định cứ để xác nó lại, chỉ phiền là ống chân của nó vẫn thò ra ở ngay cửa hầm, ống chân đã khô lại chứ không thối. Tôi nói lấy vải dù bọc chân đó lại làm chỗ vịn lên xuống cửa hầm. Trong hầm căng vải dù trắng đỏ rất sạch sẽ, đẹp mắt. Chúng tôi vẫn ngủ ngon lành và mọi người đến sở chỉ huy d5 cũng quen vịn vào cái chân ấy để vào hầm.

Địch ở vị trí cao hơn ta, cách nhau chừng 20m, chẳng có rào ngăn cách, nghe rõ tiếng ho, tiếng nói của chúng. Việc chúng ào sang tấn công ta rất dễ dàng, ta đề phòng cũng khó. Làm sao không để bị bất ngờ, còn đủ thì giờ gọi pháo của Trung đoàn, Đại đoàn chi viện.

Tôi còn nhớ, có một trận phản kích cỡ đại đội của địch, có pháo Hồng Cúm chi viện, đặc biệt có cối 120 ly bắn rất hiệu quả. Ta có sơ hở nên địch lọt được vào trận địa của ta, phá được một đoạn giao thông hào có nắp, nhưng pháo 75 của ta bắn thẳng vào sườn địch đã chặn được lực lượng tiếp viện, gây bất ngờ cho địch, khiến cuộc phản kích bị dừng lại. Trong khi đó, tôi khẩn thiết yêu cầu cối 120 ly của Trung đoàn yểm trợ. Đại đội trưởng Giai kêu trời, vì đội hình ta và địch xen nhau, bắn chính xác mấy cũng dễ “đấm lưng” quân ta. Tôi đề nghị anh Giai bắn lùi về phía đồn định, cách trận địa ta khoảng vài chục mét. Anh Giai kêu là vẫn không đảm bảo vì đạn tản mát lớn (cự li bắn 2000m). Đồng thời tôi ra lệnh cho C925 cho lực lượng cơ động xuất kích, đánh phản xung phong, không cho địch tiến thêm dù một bước, kiên quyết giữ vững trận địa. Hôm đó thật may mắn, cối 120 ly của ta bắn cực kì chính xác, trúng giữa đội hình tấn công của địch, khiến chúng khiếp vía không dám tiến, dù đi khom hay bò. Cuối cùng, chúng phải rút chạy, lại bị trung liên, đại liên của ta diệt phần lớn. Trận đánh diễn ra rất ác liệt, phạm vi hẹp, thời gian nhanh, y như một cuộc diễn tập. Ta thương vong rất ít (không đến 10 người). Nếu có người thương vong vì đạn của Trung đoàn thì rõ ràng đó là lỗi của tôi. Bài học rút ra là chiến sĩ cảnh giới lơ là một chút dễ gây tai hoạ; sự phối hợp cối, pháo với đánh phản kích kịp thời là rất hiệu quả, tuy có hơi mạo hiểm.

Chỉ huy của đại đội và tiểu đoàn rất bị hạn chế khi địch cỡ tiểu đội, tổ đột nhập sang trận địa ta. Vì vậy, việc tổ chức chiến đấu là do tiểu đội, trung đội phụ trách. Cán bộ tiểu đoàn, đại đội đến tại chỗ bàn kế hoạch tác chiến với chiến sĩ và các cán bộ cấp dưới rồi giao hẳn cho tiểu đội, trung đội tự lực đánh địch đột nhập sang. Nếu địch sang cỡ trung đội sẽ có pháo cối của tiểu đoàn, trung đoàn chi viện, thậm chí có lực lượng cơ động của đại đội, tiểu đoàn phản kích vào bên sườn.

Tôi rất khoái và tin tưởng các cán bộ tiểu đội mới đề bạt, thường đã chiến đấu ở địch hậu, rất tinh nhanh linh lợi, bình tĩnh gan dạ, thà hi sinh chứ không bao giờ lùi bước. Trong hơn một tháng phòng ngự đã diễn ra rất nhiều trận đánh phản kích tại chỗ, đều dành thắng lợi, đều do các cán bộ tiểu đội, trung đội và chiến sĩ tự lực tác chiến, không đòi hỏi chi viện của trên (mà trên cũng chẳng chỉ huy nổi!).

Khi các giao thông hào tiến sát đến hàng rào dây thép gai, khi xuất hiện pháo cao xạ 37 ly thì máy bay địch thả dù phải bay cao hơn, nên dù rơi xuống không chính xác. Càng về sau dù càng rơi nhiều xuống khu vực của ta.

Địch cần lấy dù, ta cũng cần lấy dù. Ta cần đạn cối, pháo. Địch cần lương thực, thực phẩm, thuốc men. Địch chủ yếu lấy vào ban ngày, ta lấy ban đêm. Địch ưu tiên lấy dù gần trận địa ta ban ngày, ta lấy ban đêm. Để hạn chế địch lấy dù, tôi cho mấy tay thiện xạ bắn dọa, nhưng bọn Pháp vẫn bắt những người lao công đi nhặt, vì chúng biết rằng ta không bắn chết người Việt. Sau cùng tôi cho bắn vào chân thì Pháp mới không bắt lao công đi lấy dù nữa.

Có lần ta nhặt được một dù toàn sách báo trong đó có một gói vợ De Castries gửi cho chồng. Tôi mở ra xem thì thấy có một thư và hai quyển tiểu thuyết. Nhân có một phái viên của Bộ tư lệnh chiến dịch, tôi nhờ báo cáo với trên về cách xử lý. Trên trả lời là ta nên liên lạc với Pháp để trả cho De Castries. Tôi bảo thông tin gọi điện cho Pháp nói De Castries có thư của vợ, cho người cầm cờ trắng ra chân đồi (toạ độ X) sẽ nhận được. Chỉ hơn một giờ sau thì có một lính Pháp vác cờ trắng ra địa điểm quy định, ta đã chuyển cho nó gói quà này.

Một lần khác, anh em nhặt được toàn cây nước đá. Bộ đội đập đá ra tắm rửa, cho vào nước uống thoải mái. Một dù nữa rất có giá trị là toàn rau tươi của Láng: cà chua, cải xanh, kinh giới, tía tô, rau riếp, mướp... Tôi quê ở Nhân Chính gần Láng nên được mấy bữa rau tươi của Láng thật là hạnh phúc, thấy còn ngon hơn tiệc sang trọng...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn