33. Viết về MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ BÔ (1916 – 1964)
Viết về MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ BÔ (1916 – 1964)
Tuổi thơ gian khó và tấm lòng sắt son với cách mạng
Mẹ Nguyễn Thị Bô sinh ra và lớn lên tại vùng đất biển miền duyên hải. Tuổi thơ của mẹ là một chuỗi những tháng ngày cơ cực, phải sống trong cảnh nghèo khó, thiếu thốn và khói lửa chiến tranh triền miên. Thế nhưng, được tắm mát trong chiếc nôi truyền thống của quê hương và sớm tiếp thu lời răn dạy của thế hệ cha anh đi trước, mẹ đã sớm giác ngộ cách mạng. Ngay từ thời trẻ, mẹ đã chủ động đứng vào hàng ngũ, cùng nhiều phụ nữ khác trong vùng dũng cảm tham gia các công tác tiếp tế, làm hậu phương cho cán bộ hoạt động bí mật.
Khi trưởng thành, mẹ kết duyên cùng một người bạn đời đồng điệu chí hướng ở cùng quê. Hai vợ chồng bám rẫy bám vườn, cần cù lao động tăng gia sản xuất giữa bối cảnh thời chiến muôn vàn gieo neo, thử thách. Bằng sự tảo tần và tình yêu thương vô bờ bến, mẹ đã cùng chồng vượt qua mọi gian khổ để nuôi dạy ba người con khôn lớn, trưởng thành.
Trái tim can trường của người Mẹ đất thép
Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn cam go, bằng ý chí kiên cường và trái tim nồng nàn yêu nước, mẹ Nguyễn Thị Bô đã chủ động động viên, tiễn đưa các con lên đường tòng quân giết giặc. Đáp lời sông núi, hai người con của mẹ đã hăng hái ly gia để dấn thân vào nơi hòn tên mũi đạn: một người con tham gia cách mạng năm 1962 trong đơn vị Quân y Bà Rịa; người con còn lại lên đường năm 1964, đứng vào hàng ngũ của các chiến sĩ đặc công nước thuộc Trung đoàn 10 Rừng Sác anh hùng.
Ở lại quê nhà, mẹ tiếp tục trở thành điểm tựa hậu phương vững chắc, ngày đêm thầm lặng lo toan, thu gom lương thực để chi viện cho các cánh quân. Thấu hiểu tấm lòng của mẹ, nhiều lần các anh đã tìm cách băng rừng về thăm tổ ấm. Thế nhưng, sự đánh hơi tàn bạo của kẻ thù đã khiến chúng bày mưu tính kế ngăn cản bằng cách cưỡng chế, xúc xiểm đưa mẹ vào khu ấp chiến lược nhằm chia cắt tình mẫu tử và cắt đứt mạch nối cách mạng. Sống dưới sự kìm kẹp của địch, không nhận được một dòng tin tức nào của các con yêu dấu, mẹ chỉ biết khắc khoải ngóng trông trong niềm mong mỏi nghẹn ngào. Sự dằn vặt về tinh thần cùng cuộc sống thiếu thốn khiến sức khỏe của mẹ ngày một suy kiệt, và mẹ đã trút hơi thở cuối cùng vào tháng 4 năm 1964.
Ngày mẹ tạ thế, các con của mẹ nhận được tin dữ liền tức tốc băng cắt đồn bốt trở về. Thế nhưng, do mạng lưới lính giặc canh phòng, bủa vây nghiêm ngặt quanh nhà, các anh không thể vào trong chịu tang mẹ. Giữa màn đêm lạnh lẽo, hai người con trai cùng các đồng đội chỉ biết đứng lặng câm bên ngoài bờ rào, hướng về gian nhà khói hương mà nấc nghẹn khóc thương mẹ trong đau đớn tột cùng.
Khúc tráng ca của những người con và sự tri ân của non sông
Nối tiếp chí khí bất khuất và tình yêu quê hương của người mẹ quá cố, hai người con của mẹ lại gạt nước mắt, tiếp tục ôm súng ra mặt trận chiến đấu. Thế nhưng, bom đạn tàn khốc của chiến tranh đã cướp đi mạng sống của các anh khi ngày chiến thắng đang đến gần: vào các năm 1968 và 1972, hai người con trai của mẹ đã lần lượt anh dũng hy sinh trong các trận đánh ác liệt tại tỉnh Bà Rịa (nay là tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) và huyện Cần Giờ. Trong đó, người con cả của mẹ là Liệt sĩ Phạm Văn Hơi – người ngã xuống trên chiến trường Bà Rịa – cho đến tận ngày nay vẫn nằm lại đâu đó trong lòng đất mẹ bao dung, chưa thể quy tập được hài cốt về với gia đình.
Chiến tranh gươm giáo cuối cùng đã khép lại, ngày hội thống nhất non sông đã ca khúc khải hoàn trên khắp dải đất hình chữ S, song mẹ Nguyễn Thị Bô cùng những người con thân yêu đã không còn nữa để chứng kiến giờ phút huy hoàng ấy. Để bày tỏ lòng lòng biết ơn vô hạn và tri ân sâu sắc trước những hy sinh hiến dâng vĩ đại vô bờ bến của mẹ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, Đảng và Nhà nước đã trang trọng truy tặng danh hiệu cao quý nhất: “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” cho mẹ. Tấm gương trung liệt, quả cảm của mẹ Nguyễn Thị Bô sẽ mãi là một tượng đài ngời sáng, khắc sâu vào trang sử vàng oanh liệt của quê hương duyên hải và trường tồn cùng dòng chảy lịch sử dân tộc.


