Người có công giúp đỡ cách mạng

323. NHÀ CÁCH MẠNG HÀ HUY TẬP

TP. Hồ Chí Minh24/12/2025Nguyễn Thị Thanh Tuyền (ĐOÀN XÃ TÂN AN HỘI)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

" Hà Huy Tập là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ chiến sĩ cách mạng đầu thế kỷ XX- một lớp người đã dấn thân vào con đường đấu tranh đầy gian khổ để mở lối cho độc lập dân tộc. Cuộc đời của ông, dù chỉ kéo dài 35 năm, nhưng như một ngọn đuốc sáng về ý chí, lòng trung thành và sự cống hiến trọn vẹn cho lý tưởng cách mạng.

Hà Huy Tập sinh ngày 24 tháng 4 năm 1906 tại làng Kim Nặc, tổng Thổ Ngọa- nay thuộc xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Thuở nhỏ, ông mang tên Hà Huy Khiêm, mọi người thường gọi là Ba- cái tên bình dị gắn liền với tuổi thơ trong một gia đình năm anh chị em. Cha ông tuy đỗ Cử nhân Nho học nhưng không chọn con đường làm quan, mà trở về quê dạy học, bốc thuốc giúp dân. Từ người cha giàu lòng nhân nghĩa ấy, Hà Huy Tập sớm được hun đúc tinh thần học hỏi, đức hiếu học và ý thức về trách nhiệm đối với quê hương.

Từ nền tảng Nho học ở nhà, ông tiếp tục theo học bậc Tiểu học tại thị xã Hà Tĩnh. Năm 1919, khi mới 13 tuổi, Hà Huy Tập thi đỗ vào Trường Quốc học Huế- một trong những ngôi trường nổi tiếng nhất Trung Kỳ lúc bấy giờ. Tại đây, ông không chỉ tiếp thu kiến thức văn hóa mà còn chứng kiến những chuyển động mạnh mẽ của phong trào yêu nước trong giới trẻ. Tốt nghiệp năm 1923 với kết quả Diplôme hạng ưu, ông được phân dạy tại Trường Tiểu học Nha Trang (nay là THPT Nguyễn Văn Trỗi). Những năm tháng đứng trên bục giảng đã nuôi dưỡng ở ông một lòng yêu nước bền bỉ và ý thức rõ ràng về trách nhiệm khai sáng cho thế hệ trẻ.

Trong bản tự thuật khi học tại Trường Đại học Phương Đông sau này, Hà Huy Tập kể lại gia cảnh của mình với giọng văn chân thành và bình dị. Bố ông mất từ năm 1916, mẹ tần tảo sớm hôm. Anh cả vừa làm ruộng, vừa làm công nhân trong các xí nghiệp vì gánh nặng mưu sinh. Em gái út lấy một người cộng sản và chồng chị bị kết án lao động khổ sai vào tháng 6 năm 1929. Ngay cả bản thân Hà Huy Tập cũng đã lập gia đình với một nữ cộng sản trong năm đó. Những chi tiết ấy cho thấy gia đình ông là một gia đình lao động nghèo, nhưng chan chứa truyền thống yêu nước và ý chí vươn lên.

Sau những năm dạy học, Hà Huy Tập bắt đầu tham gia vào các phong trào yêu nước của thanh niên, hăng hái hòa mình vào dòng chảy sục sôi của dân tộc. Năm 1928, ông sang Trung Quốc hoạt động cách mạng, rồi được cử đi học tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản- nơi đào tạo nhiều lãnh tụ cách mạng nổi tiếng của thế giới. Việc được chọn học ở đây là minh chứng cho năng lực lý luận sắc bén và phẩm chất xuất sắc của ông. Sau khi hoàn thành khóa học, Hà Huy Tập tiếp tục hoạt động tại Trung Quốc, Xiêm (Thái Lan) và nhiều địa bàn khác, góp phần quan trọng vào việc xây dựng, củng cố tổ chức Đảng trong giai đoạn khó khăn.

Từ năm 1936 đến 1938, Hà Huy Tập được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. Dù hoạt động trong hoàn cảnh bị theo dõi, đàn áp gắt gao, ông vẫn kiên trì chỉ đạo phong trào đấu tranh dân chủ 1936- 1939, làm cho thanh thế cách mạng được mở rộng và hệ thống cơ sở Đảng được phục hồi mạnh mẽ. Ở cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng, Hà Huy Tập không chỉ thể hiện bản lĩnh kiên định mà còn bộc lộ tư duy lý luận sắc sảo, để lại nhiều văn kiện quan trọng định hướng đường lối chiến lược cho phong trào cách mạng.

Năm 1938, khi đang hoạt động tại Sài Gòn, Hà Huy Tập bị thực dân Pháp bắt. Ban đầu, ông bị đưa về quê để quản thúc- một hình thức giam lỏng nhằm hạn chế ảnh hưởng của ông trong phong trào. Nhưng đến ngày 30 tháng 3 năm 1940, ông bị bắt lại và đưa vào Nam Kỳ.

Ngày 25 tháng 10 cùng năm, ông bị thực dân Pháp đưa ra xét xử và tuyên án 5 năm tù giam. Tại phiên tòa này, ông được một luật sư trẻ- Nguyễn Văn Huyền, người sau này trở thành Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa- đứng ra biện hộ. Tuy nhiên, sự biện hộ ấy không thể làm thay đổi bản chất của chế độ thực dân; bản án dành cho ông vẫn vô cùng nặng nề.

Không dừng lại ở đó, ngày 25 tháng 3 năm 1941, chính quyền Pháp đổi bản án của ông thành án tử hình, với lý do quy chụp rằng Hà Huy Tập ""chịu trách nhiệm tinh thần về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ"". Trong bản án tử ấy còn có những tên tuổi lớn như Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai. Đứng trước tòa, Hà Huy Tập vẫn giữ phong thái ung dung và khí tiết của một người chiến sĩ cộng sản. Ông nói: ""Tôi chẳng có gì phải hối tiếc. Nếu còn sống tôi sẽ tiếp tục hoạt động."". Câu nói ấy đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm và sự kiên định tuyệt đối với lý tưởng cách mạng.

Ngày 28 tháng 8 năm 1941, Hà Huy Tập cùng một số chiến sĩ khác bị xử bắn tại Sở Rác Hóc Môn. Dẫu ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, nhưng tấm gương và sự hy sinh của ông đã trở thành nguồn cảm hứng lớn lao cho các thế hệ cách mạng sau này.

Gần 70 năm sau, vào ngày 22 tháng 11 năm 2009, hài cốt của Hà Huy Tập được tìm thấy tại khu vực Bến Tắm Ngựa thuộc xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 1 tháng 12 cùng năm, lễ viếng và truy điệu ông được tổ chức trọng thể tại Hội trường Thống Nhất, với sự tham dự của nhiều lãnh đạo và hàng trăm đoàn đại biểu trên cả nước. Sau đó, linh cữu ông được đưa về an táng tại quê nhà Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh- nơi chiến sĩ trẻ năm xưa đã cất tiếng khóc chào đời và bắt đầu hành trình dấn thân dành trọn cho đất nước.

Cuộc đời của Hà Huy Tập là minh chứng sống động cho tinh thần yêu nước bền bỉ, ý chí kiên cường và sự hy sinh cao cả. Dù trải qua nhiều biến cố, dù phải đối diện với tù đày và cái chết, ông vẫn giữ vững niềm tin vào con đường cách mạng và tương lai tươi sáng của dân tộc. Hơn một thế kỷ đã qua, tên tuổi Hà Huy Tập vẫn còn vang vọng, như một bài học sâu sắc về lòng trung thành, trí tuệ và bản lĩnh của người chiến sĩ cộng sản Việt Nam.

"

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn