Mẹ Việt Nam Anh hùng

350. MẸ VNAH TRẦN THỊ VIẾT

TP. Hồ Chí Minh17/05/2026Trần Thị Mai Lý (ĐOÀN XÃ TÂN AN HỘI)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Họ tên: Trần Thị Mai Lý

Đơn vị: Trường Tiểu học Thị trấn Củ Chi

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA

BÀI VIẾT: PHÙ SA VÀ MÁU: BẢN HÙNG CA CỦA NGƯỜI MẸ 119 TUỔI

Tôi là một đoàn viên. Trong những chuyến đi về nguồn, có những cái tên lướt qua như gió, nhưng có những cuộc đời khiến ta phải dừng lại, đứng lặng thật lâu để tự hỏi: "Sức mạnh nào đã giữ cho trái tim ấy không vỡ vụn trước bão tố?". Cái tên ấy là Trần Thị Viết.

Mẹ Viết sinh năm 1892, cái năm mà vùng đất Tuyên Bình, Vĩnh Hưng (Long An) vẫn còn là vùng bưng biền hoang vu, nước nổi mênh mông mỗi độ thu về. Mẹ lớn lên giữa cái nắng cháy da của miền Tây và cái mặn mòi của phù sa sông Vàm Cỏ. Hồi đó, con gái miền Nam mạnh mẽ lắm, tay chèo xuồng điệu nghệ, tay cắt lúa thoăn thoắt. Mẹ cũng vậy, một cô gái hiền lành, chịu thương chịu khó.Lấy chồng, rồi sinh con. Cuộc đời Mẹ lẽ ra đã êm đềm như dòng nước rạch nếu không có tiếng súng của thực dân Pháp vang lên khắp xóm làng. Mẹ không phải là một "nữ tướng" lừng danh trên chiến trường, Mẹ chỉ là một người phụ nữ mặc áo bà ba đen, quấn khăn rằn, nhưng lòng Mẹ rộng hơn cả cánh đồng Đồng Tháp Mười.Người ta gọi Mẹ là "Bà Má phong trào". Bạn biết không, cái danh hiệu đó nghe thì giản dị, nhưng trong thời chiến, nó đồng nghĩa với việc đặt một chân vào cửa tử. Căn nhà lá của Mẹ bên dòng sông vừa là nơi nuôi con, vừa là hầm bí mật, là nơi cất giấu những tập tài liệu giao liên mà chỉ cần bị lộ, cả gia đình sẽ không còn mạng.

Đàn ông miền Nam hồi đó ngộ lắm, hễ thấy nước nhà bị xâm lấn là họ bỏ cày, bỏ cuốc mà đi theo tiếng gọi của "anh Ba", "anh Tư". Chồng Mẹ đi, rồi đến các con Mẹ lần lượt khôn lớn.Mỗi lần một đứa con xin đi bộ đội, Mẹ chỉ lặng lẽ gói cho nắm cơm rang, dặn một câu ráo hoảnh: "Đi cho trọn nghĩa, chừng nào yên giặc thì về với má". Mẹ nói ráo hoảnh để giấu cái run rẩy của đôi tay. Mẹ biết, mỗi lần tiễn con đi là một lần Mẹ chuẩn bị tinh thần cho những "mùa đông" không bao giờ kết thúc.

Nỗi đau bắt đầu gõ cửa vào những năm kháng chiến chống Pháp. Người con trai cả ngã xuống. Rồi người con thứ hai. Bạn có tưởng tượng được cảm giác khi người ta mang đến một tờ giấy báo tử, còn Mẹ thì vẫn đang nấu nồi cơm chờ con về? Mẹ không khóc thành tiếng. Người miền Tây đau quá họ thường lặng im. Mẹ ra sau hè, nhìn về phía rặng tràm xa xăm, tay vò nát vạt áo bà ba.

Nhưng đỉnh điểm của sự nghiệt ngã là vào thời chống Mỹ, đặc biệt là mùa xuân Mậu Thân 1968. Chiến trường Long An khi ấy là túi bom, là vùng trắng. Tin báo tử về dồn dập đến mức người ta không dám bước vào nhà Mẹ nữa.

Bảy người con trai của Mẹ – bảy khúc ruột, bảy niềm hy vọng – đã lần lượt nằm lại dưới đất lạnh. Có những đứa hy sinh khi vừa mới tròn đôi mươi, có đứa hy sinh khi còn chưa kịp biết hơi ấm bàn tay của người con gái. Đau đớn hơn cả là trường hợp của hai anh Nguyễn Văn Anh và Nguyễn Văn An, hy sinh ngay trên mảnh đất quê hương khi đang chống càn để bảo vệ dân làng. Mẹ biết con mình chết ở đâu, nhưng lúc đó giặc bao vây, mẹ chẳng thể ra mà nhặt xác con. Nỗi đau ấy, tôi đồ rằng nó sắc lẹm như một nhát dao khứa vào lòng người mỗi khi gió chiều thổi về.

Bạn hỏi Mẹ làm gì để "tăng phần thắng lợi cho kháng chiến"? Mẹ không cầm súng, nhưng Mẹ giữ lửa cho những người cầm súng.

Trong suốt những năm tháng đen tối nhất của phong trào cách mạng miền Nam, nhà Mẹ Viết là "địa chỉ đỏ". Các chiến sĩ giao liên, các cán bộ nằm vùng đều coi Mẹ như mẹ ruột. Có những đêm mưa tầm tã, nước dâng cao, Mẹ vừa canh chừng giặc, vừa nấu cháo cho anh em thương binh dưới hầm. Mẹ lấy thân mình che chắn, lấy sự bình tĩnh của mình để trấn an những người con đang hoạt động bí mật.

Có lần giặc vào nhà, chúng nghi ngờ có hầm bí mật nên dùng gậy chọc xuống nền đất. Mẹ đứng đó, gương mặt thản nhiên như không, miệng vẫn nhai trầu bỏm bẻm. Mẹ bảo: "Mấy ông cứ kiếm, nhà tui nghèo rớt mồng tơi, có gì đâu mà giấu". Sự gan lì của người mẹ Nam Bộ khiến chúng nản lòng mà bỏ đi. Ngay sau khi chúng đi khuất, Mẹ mới khuỵu xuống, tim đập như trống hội nhưng tay vẫn nhanh chóng mở nắp hầm đưa anh em ra ngoài.

Sự hy sinh của Mẹ Viết không chỉ là 7 người con, mà là cả một đời sống trong lo âu, hiểm nguy để bảo vệ lý tưởng. Mẹ gửi con cho Tổ quốc, còn bản thân mình Mẹ gửi cho nhân dân.

Năm 1975, cờ đỏ sao vàng tung bay khắp nẻo đường. Người ta thấy bà già nhỏ thốn ngồi bên bậc cửa, mắt mờ đục nhìn ra con lộ. Mẹ đợi. Mẹ biết 7 đứa con đã hy sinh, nhưng trong thâm tâm của một người mẹ, vẫn luôn có một tia hy vọng mong manh rằng có lẽ... có lẽ có một đứa nào đó bị thất lạc rồi nay tìm đường về. Nhưng không có ai về cả. Chỉ có những tấm bằng Tổ quốc ghi công và danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng được Đảng và Nhà nước trao tặng. Mẹ nhận danh hiệu đó bằng đôi tay nhăn nheo, run rẩy. Mẹ bảo: "Tui làm vì tui yêu nước, vì tui muốn con cháu tui sau này không phải chịu khổ như tui, chứ đâu có tính toán công lao".

Mẹ Viết sống thọ lắm, thọ đến mức người ta coi Mẹ như một "pho sử sống". Mẹ sống qua ba thế kỷ, từ thời vua chúa phong kiến, qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, đến khi đất nước đổi mới, vươn mình ra thế giới. Mẹ sống đến năm 119 tuổi (2011) mới về với tổ tiên. Có lẽ ông trời cho Mẹ sống lâu như vậy để Mẹ thay phần các con mình nhìn ngắm một Việt Nam hòa bình, xanh tươi.

Câu chuyện của Mẹ Trần Thị Viết không chỉ là câu chuyện của một cá nhân. Đó là câu chuyện của hàng ngàn bà mẹ miền Nam khác, những người đã "gánh cả sơn hà" trên đôi vai gầy.

Là một đoàn viên, khi viết những dòng này, tôi thấy mình thật nhỏ bé. Chúng ta hôm nay sống trong bình yên, đôi khi chỉ một chút khó khăn trong công việc hay cuộc sống là đã thấy nản lòng. Nhưng hãy nhìn lại Mẹ Viết. Bảy lần tiễn con đi, bảy lần nhận tin con hy sinh, nhưng chưa một giây phút nào Mẹ từ bỏ niềm tin vào ngày chiến thắng.

Đó chính là "thời hoa lửa" – cái thời mà mỗi con người đều cháy hết mình như một bông hoa lửa, để rồi lụi tắt trong huy hoàng, để lại tro cốt bón cho đất đai này thêm màu mỡ.

Mẹ Trần Thị Viết đã đi xa, nhưng tinh thần của Mẹ vẫn còn đó, lồng lộng như gió sông Vàm Cỏ. Mỗi khi chúng ta đứng trước những thử thách của thời đại mới, hãy nhớ về ngôi nhà nhỏ ở Tuyên Bình, nhớ về người mẹ 119 tuổi đã sống một cuộc đời "hóa thân cho dáng hình xứ sở".

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn