42 năm mùa Xuân thống nhất: Câu chuyện của những chiến sĩ lái xe tăng
Lần giở những trang hồi ký của những người lính lái xe tăng trên chặng đường chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, mặc dù chiến tranh đã lùi xa, nhưng trên từng con chữ, những khoảnh khắc sống, chiến dấu, hy sinh vì Tổ quốc vẫn còn in đậm trong tâm trí họ và sống động trên từng trang giấy. Rất nhiều câu chuyện được kể bởi những con người đã đi qua cuộc chiến, mỗi câu chuyện là một giai đoạn lịch sử, một hoàn cảnh lịch sử, một vùng đất và một con người khác nhau. Nhưng tất cả đều
* Mùa xuân ra trận, đánh trước rồi ăn Tết sau
Đầu năm 1975, Trung ương Đảng và Bộ Chính trị hoàn chỉnh quyết tâm chiến lược: Gấp rút chuẩn bị mọi mặt để kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chuẩn bị cho miền Nam đánh lớn, mà trực tiếp là Chiến dịch Tây Nguyên, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã quyết định cử Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng cùng một số cán bộ cấp cao tổ chức thành một bộ phận đại diện Quân ủy Trung ương - Bộ Tổng Tư lệnh tại chiến trường miền Nam, mang mật danh Đoàn A.75. Trong tác phẩm Tổng hành dinh mùa xuân đại thắng, của đại tướng Võ Nguyên Giáp có đoạn kể về không khí ra trận của mùa xuân 1975 như sau: “Ngày 5 tháng 2 năm 1975, Đoàn A.75 lên đường vào thời điểm nhân dân tưng bừng đón Xuân Ất Mão. Mọi biện pháp bảo mật, nghi binh được thực hiện để đánh lạc hướng địch. Ra trận giữa lúc năm hết Tết đến đã góp thêm yếu tố bất ngờ. Đây cũng là một nét truyền thống của dân tộc Việt Nam, kể từ Tết Kỷ Dậu với trận Ngọc Hồi - Đống Đa (1789) và Tết Mậu Thân với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy 1968. Vui xuân không quên đánh địch. Đánh trước, rồi ăn Tết sau. Đánh địch cũng là nổ pháo mừng xuân. Cốt sao giành thế bất ngờ. Anh Văn Tiến Dũng và Đoàn A.75 lên đường với khí thế và quyết tâm như vậy”.
Cũng hành quân trong không khí mùa xuân năm ấy, Đại tá Nguyễn Chí Tam – nguyên phó Tư lệnh Kỹ thuật Quân đoàn 26 - Phó tham mưu trưởng Binh chủng Tăng - Thiết giáp nhớ lại những ngày tháng đi cùng Lữ đoàn xe tăng 203 trong mùa xuân đại thắng. Ông kể: “Tháng 2 năm 1975, đang làm hiệu phó trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp, tôi được gọi về Bộ tư lệnh Thiết giáp giúp đỡ kiểm tra và chuẩn bị cho Lữ đoàn 215 đi làm nhiệm vụ….. cán bộ đơn vị đến báo cho biết phải về đơn vị ngay để cùng đi với Bộ tư lệnh binh chủng và một số cán bộ vào mặt trận Quảng Đà. Chuẩn bị hành trang lên đường chiến dịch gồm tăng, võng, bạt, quần áo, lương khô.
Đi cùng đoàn có đại diện Bộ tư lệnh binh chủng gồm hai người là Đào Huy Vũ, Tư lệnh Ủy viên Thưởng vụ Đảng ủy và Đào Văn Xuân, Phó chính Ủy, Phó Bí thư Đảng ủy và cán bộ của 4 cơ quan: Tham mưu, chính trị, kỹ thuật, hậu cần. Sáng ngày 7/3/1975, đoàn cán bộ lên đường, không ai nghĩ rằng đây là lần đi chiến trường cuối cùng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ”.
* Để đảm bảo bí mật: Phải thật cần thiết thì mới sử dụng xe tăng
Nhớ lại những ngày tháng khi nhận nhiệm vụ chỉ huy đoàn cán bộ Binh chủng Tăng - Thiết giáp vào Nam giúp các đơn vị khôi phục sữa chữa xe tăng - thiết giáp và tập huấn cán bộ tăng về cách đánh hiệp đồng có xe tăng tham gia. Những chi tiết đặc biệt đượcTư lệnh Binh chủng Tăng - Thiết giáp Lê Xuân Kiện kể lại:“Chiều ngày 20/9/1974, hết giờ làm việc, tôi về nghỉ tại trạm 66 thuộc Bộ Quốc phòng thì gặp anh Phạm Viễn, cán bộ Tuyên huấn phòng chính trị Binh chủng Tăng - Thiết giáp. Phạm Viễn vui vẻ nói: “Theo lệnh của Bộ, anh thu xếp công việc ở Hà Nội về ngay Binh chủng để chuẩn bị đi công tác miền Nam”. Đúng 8 giờ ngày 21/9/1974, tôi vào cơ quan Bộ Tổng tham mưu được anh Văn Tiến Dũng tiếp rất thân tình và giao nhiệm vụ cho tôi: “Cậu chỉ huy một đoàn cán bộ và thợ sửa chữa các loại về xe tăng - thiết giáp vào miền Nam để giúp các đơn vị khôi phục, sữa chữa xe tăng - thiết giáp và tập huấn cán bộ xe tăng thiết giáp về cách đánh hiệp đồng binh chủng có xe tăng tham gia từ Quảng Trị đến miền Đông Nam Bộ (B2) và chuẩn bị cho hoạt động Đông Xuân 1974-1975”.
Ngày 5/10/1974, tại Núi Đanh đoàn cán bộ hành quân bằng hai xe con chở cán bộ và hai xe ô tô đại xa chở thợ sửa chữa kỹ thuật. Trong hơn 2 tháng, đoàn công tác đã làm nhiệm vụ sửa chữa xe tăng và tập huấn cán bộ đánh hiệp đồng binh chủng cho các đơn vị Tăng - Thiết giáp từ Quảng Trị, Nam Lào, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ, đến đầu tháng 1/1975 đoàn quay trở lại chiến trường Tây Nguyên theo lệnh của đồng chí Vũ Lăng. Trung tuần tháng 2/1975, Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên tổ chức cuộc họp báo với Thượng tướng Tổng tham mưu trưởng kế hoạch chiến dịch và quyết tâm chiến đấu trận tiến công tiêu diệt chi khu Đức Lập và thị xã Buôn Ma Thuột. Thiếu tướng Lê Xuân Kiện may mắn được tham dự: “Tham mưu phó mặt trận B3 báo cáo xong, Thượng tướng Văn Tiến Dũng hỏi: Các anh trong Bộ Tư lệnh B3 có phát biểu bổ sung thêm không? Anh Hoàng Minh Thảo nói: Kế hoạch chiến dịch và quyết tâm chiến đấu tiến công chi khu Đức Lập và thị xã Buôn Ma Thuột, chúng tôi đã thông qua thống nhất như đã báo cáo với Thủ trưởng Bộ. Anh Văn Tiến Dũng hỏi: Các binh chủng có ai có ý kiến cần bổ sung thì phát biểu. Hội nghị một phút im lặng, anh Dũng chỉ vào tôi vào nói: Kiện đại diện cho xe tăng phát biểu đi. Tôi giơ tay xin nói:….Về sử dụng lực lượng trong chiến dịch, tôi đồng ý như kế hoạch của B3 đã chuẩn bị, Sư đoàn bộ binh 10 được tăng cường một đại đội xe tăng T54 làm lực lượng dự bị để tiến công tiêu diệt Chi khu Đức Lập, nhưng lưu ý phải thật cần thiết thì mới điều đại đội tăng vào chiến đấu ở Đức Lập vì phải đảm bảo bí mật bất ngờ khi ta sử dụng hiệp đồng với bộ binh tiến công Buôn Ma Thuột. Lực lượng xe Tăng - Thiết giáp của B3 sẽ sử dụng tất cả để tiến công Buôn Ma Thuột, mỗi trung đoàn đánh vào đây sẽ được tăng cường một đại đội tăng T54 và tổ chức một mũi thọc sâu do một tiểu đoàn tăng và đại đội thiết giáp chở bộ binh trên xe thọc sâu đánh chiếm sở chi huy Sư đoàn 23 của địch. Sau khi Đức Lập bị tiêu diệt, đại đội tăng dự bị của Đức Lập sẽ làm dự bị cho Buôn Ma Thuột”.
Quá trình tiến công Đức Lập, Sư bộ binh 10 đã đánh chiếm được một số mục tiêu quan trọng, nhưng còn một số mục tiêu chưa được giải quyết xong, Sư trưởng Sư 10 gọi điện cho đồng chí Vũ Lăng đề nghị cho sử dụng đại đội xe tăng dự bị vào chiến đấu, đồng chí Vũ Lăng đã hỏi ông Lê Xuân Kiện:“Có nên sử dụng xe tăng vào dứt điểm Đức Lập không?, ông Kiện trả lời: “Đề nghị anh gọi điện cho sư trưởng là để đảm bảo bí mật cho xe tăng khi đánh Buôn Ma Thuột, đại đội tăng dự bị chưa sử dụng, sư đoàn kiểm tra xem sư đoàn bộ binh dự bị và DKZ đã sử dụng hết chưa? Nếu chưa thì sử dụng lực lượng dự bị vào đánh các mục tiêu còn lại, nếu lực lượng dự bị không giải quyết được mục tiêu Đức Lập thì mới sử dụng xe tăng dự bị, may mắn khi Sư 10 điều lực lượng dự bị đã chiếm được các vị trí quan trọng”.
Đêm 10/3/1975, bộ đội Tây Nguyên tiến công thị xã Buôn Ma Thuột, khi pháo binh chiến dịch chuẩn bị bắn, xe tăng tốc độ cao tiếp cận mục tiêu, khi pháo binh bắn chuyển làn chi viện xung phong, các đại đội tăng cường cho các trung đoàn bộ binh nhanh chóng tiến lên hiệp đồng với bộ binh xung phong đánh chiếm từng mục tiêu trong thị xã. Tiểu đoàn tăng – thiết giáp chở bộ binh nhanh chóng thọc sâu vào khu trung tâm thông tin để phát triển đánh chiếm sở chỉ huy Sư đoàn 23 địch. Địch chống cự quyết liệt, mũi thọc sâu phải dừng lại củng cố, các trung đoàn bộ binh bộ binh và đại đội tăng chiếm các mục tiêu trong thị xã cũng dừng lại để củng cố. Ngày 11/3, lực lượng bộ binh và xe tăng, đặc công tiếp tục tiến công đợt II, 11h cùng ngày toàn bộ địch trong thị xã Buôn Ma Thuột đã bị tiêu diệt, bộ đội ta làm chủ chiến trường. Thất bại ở Tây Nguyên chỉ huy địch quyết định rút bỏ Tây Nguyên, ngày 20/3 toàn bộ lực lượng địch ở Pleiku hơn ba vạn hai nghìn tên và vợ con rút theo đường 14 xuống ngã ba đường 7 đi Cheo Reo, Củng Sơn. Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên dự kiến đúng tình hình đã điều Sư đoàn 320 được tăng cường một tiểu đoàn Tăng – Thiết giáp nhanh chóng đến thị xã Cheo Reo tiến công tiêu diệt địch. Toàn bộ lực lượng rút lui của địch một phần bị tiêu diệt, một phần bị bắt làm tù binh, còn vợ con của họ được Bộ chỉ huy mặt trận cho ở tạm Cheo Reo một vài ngày, sau đó động viên họ trở về quê cũ.
Thời gian cấp bách: Dùng máy bay vận chuyển đạn pháo từ miền Bắc vào Tây Nguyên.
Chiến dịch Tây Nguyên kết thúc thắng lợi, tạo đột biến về chiến dịch và chiến lược, Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng Miền Nam. Từ Tây Nguyên, công tác chuẩn bị cho giải phóng Sài Gòn được Tư lênh mặt trận gấp rút chuẩn bị. Thiếu tướng Lê Xuân Kiện nhớ lại buổi làm việc nhanh chóng với Tổng tham mưu Văn Tiến Dũng về vấn đề pháo xe tăng chuẩn bị cho giải phóng Sài Gòn: 14 giờ 30 phút, Văn phòng Bộ Tư lệnh Tây Nguyên gọi điện cho tôi sang làm việc với Tổng tham mưu Văn Tiến Dũng, Đại tướng nói: Anh Sáu Thọ (Lê Đức Thọ) ở Hà Nội sẽ vào Tây Nguyên, chúng ta phải khẩn trương giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa. Xe tăng của B3 khả năng chiến đấu tiếp có khó khăn gì không?
Tôi đáp: Toàn bộ xe tăng thiết giáp của B3 qua hai trận chiến đấu tiêu tiệt Buôn Ma Thuột và Cheo Reo đều tốt… khí tài kỹ thuật, dầu ma dút, dầu nhớt còn đủ. Khó khăn lớn nhất của lực lượng xe tăng là thiếu đạn pháo 100 ly không đủ một xe hai cơ số đạn. Đánh Sài Gòn, mỗi xe cần có 2-2.5 cơ số đạn.
Đại tướng hỏi tiếp: cậu đã đi các kho vũ khí của B3 kiểm tra chưa?
Tôi: Trước khi mở chiến dịch, tôi đã đi các kho B3 xem đạn pháo, đạn 12,7 ly, đạn súng máy trên xe tăng, thì đạn pháo 100 ly đã hết”.
Đại tướng lo lắng: Bây giờ làm thế nào để có đạn pháo xe tăng để đánh Sài Gòn?;
Tôi: “Đề nghị thủ trưởng điện cho Tổng cục Hậu cần chở đạn pháo 100 ly từ miền Bắc và Tây Nguyên”.
Đại tướng: Thời gian gấp lắm rồi, chúng ta phải giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa năm nay.
Tôi: Nếu đạn pháo chở bằng ô tô từ miền Bắc vào Tây Nguyên thì không kịp, mùa mưa ở miền Nam bắt đầu từ tháng 5, từ nay đến tháng 5 ta còn 1 tháng, tôi đề nghị Tổng tham mưu trưởng điện cho Tổng cục Hậu cần, lấy đạn pháo 100 ly ở Kho Bộ Tư lệnh Tăng-thiết giáp đưa về Gia Lâm dùng máy bay IL-18 chở khoảng 2000 viên thì trong thời gia 1 tuần sẽ đảm bảo cho mỗi xe tăng 2-2.5 cơ số đạn ly 100.
Bàn bạc xong Đại tướng bảo: “Kiện sang cơ quan tham mưu làm việc với anh Lê Ngọc Hiền và bảo anh Hiền điện cho Tổng cục Hậu cần dùng máy bay vận tải IL-18 chở đạn pháo cho Tây Nguyên hạ cánh xuống sân bay Hòa Bình ở phía nam Buôn Ma Thuột khoảng 8 km”.
Chuẩn bị cho giải phóng Sài Gòn, ở thời điểm hiện tại miền Nam có thể tập trung được khoảng trên 400 xe trên tất cả các hướng đánh vào Sài Gòn - Gia Định, so với lực lượng thiết giáp của địch là khoảng gần 1700 – 1800 xe tăng, do đó Bộ chỉ huy đã điều 2 tiểu đoàn tăng T-54 của Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp tăng cường cho B2 bổ sung cho Quân đoàn I, đảm bảo sức đột kích cho quân đoàn.
Thượng tuần tháng 4, Bộ tư lệnh chiến dịch thông qua kế hoạch chiến dịch và quyết tâm chiến đấu của các quân đoàn trên 5 hướng tiến công vào Sài Gòn – Gia Định. Từ ngày 25 đến 30/4 trên các hướng tiến công của các quân đoàn đã nổ súng tiến công địch, tạo điều kiện nhanh chóng đánh thẳng và tiêu diệt các mục tiêu chủ yếu là Dinh Độc Lập, trụ sở Bộ Tổng tham mưu chính quyền Sài Gòn và các mục tiêu quan trong là sân bay Tân Sơn Nhất, Quân Cảng Sài Gòn, Bộ Tư lệnh Cảnh sát. Đặc biệt trên hướng đông nam Sài Gòn, Lữ đoàn tăng 203 được tăng cường một trung đoàn bộ binh, tiểu đoàn pháo binh, tiểu đoàn pháo cao xạ đã nhanh chóng tiến công vào Dinh Độc Lập, buộc Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975.
Ngã xuống trước giờ toàn thắng
Chiến tranh kết thúc, người lính trở về với đời thường, nhưng hồi ức của họ về đồng đội đã ăn sâu vào tiềm thức. Nhớ về đồng đội đã ngã xuống trên đường phố Sài Gòn trước giờ toàn thắng, người lính tăng-thiết giáp hôm nay vẫn nhớ như in tên và cách mà đồng đội mình ngã xuống. Đó là anh Nguyễn Xuân Trường chính trị viên Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn xe tăng 273, khi chỉ huy xe tăng của mình vọt lên dẫn đầu đội hình đại đội, anh mở cửa, nhô mình ra ngoài tháp pháo vẫy tay ra hiệu cho trung đội 1 khẩn trương tiến lên thì bị trúng đạn hi sinh. Hay như anh Ngô Văn Nhỡ, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Xe tăng 203 hi sinh khi nhô người ra cửa tháp pháo quan sát, hay như chiếc xe tăng K63-85 số hiệu 707 của Lữ đoàn 203 đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và hy sinh đến người chiến sĩ xe tăng cuối cùng khi đánh chiếm căn cứ Thủ Đức (trường Cây Mai) trong ngày 30/4/1975... Các anh cùng với triệu triệu thanh niên khác đã mãi mãi nằm xuống vì độc lập dân tộc, đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng vì lý tưởng cao đẹp.
Viết về chuyện của những chiến sĩ lái xe tăng trong mùa xuân đại thắng của 42 năm trước như một nén tâm nhang thành kính tri ân các anh - những người lính đã ngã xuống hoặc phải bỏ lại một phần cơ thể của mình trên chiến trường, hay những người đã cống hiến cả tuổi xuân cho dân tộc, vì độc lập – tự do của Tổ quốc, quê hương.



