Bài viết

45 NĂM- MỘT ĐỜI BINH NGHIỆP (1)

74 năm tuổi đời, 52 năm tuổi đảng và 45 năm là chiến sỹ cách mạng của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đó là những thông tin vắn tắt mà đầy đủ nhất để nói về ông, Thiếu tướng Sa Minh Trắc- nguyên Phó Tư lệnh Quân khu II, Chỉ huy Phó Chính trị Bộ chỉ huy quân sự (CHQS) tỉnh Yên Bái. Nói thì ngắn gọn là vậy, song để trải qua những con số đó lại là cả một câu chuyện dài, một câu chuyện khiến ngay cả lớp hậu sinh chưa từng tận mắt chứng kiến vẫn có thể phần nào hình dung ra diễn biến của cả một giai đoạn

Lào Cai05/12/2025Nguyễn Thị Tâm (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Các cơ quan Đảng tỉnh Lào Cai)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi thực sự may mắn và ấn tượng khi gặp được Thiếu tướng Sa Minh Trắc trong chuyến công tác chuyên đề, do Bộ CHQS tỉnh tổ chức. Hôm ấy, tuy đã được báo trước và bố trí cho buổi gặp gỡ và làm việc với đoàn, nhưng không giống những nhân vật khác, Thiếu tướng có mặt với diện mạo, trang phục giản dị, không quân trang, không huy chương, huy hiệu. Thiếu tướng bắt đầu cuộc trò chuyện với tôi bằng một tâm thế nghiêm túc, chủ động, đúng phong thái của một vị tướng đã gắn bó cả cuộc đời với sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước. Nhưng sau đó, cuộc trò chuyện dường như đã kéo ông về với quá khứ khiến ông không thể kìm nén. Ông đã kể cho tôi nghe câu chuyện cuộc đời mình với những cung bậc cảm xúc khác nhau. Một đời binh nghiệp với 45 năm chiến đấu được chia thành nhiều giai đoạn và mỗi giai đoạn là một trận tuyến.

Chiến trường-nơi hun đúc, tôi luyện nên cốt cách một chiến sỹ cách mạng

Sinh năm 1942, tuổi thơ ông gắn liền với những dãy núi Cườm, Ba Chẽ, Ba Chum và những ký ức về một khí thế, tinh thần đấu tranh cách mạng của nhân dân Văn Chấn. Vốn là một gia đình thuần nông nhưng nhờ chăm chỉ làm ăn nên gia đình ông cũng có chút của ăn, của để. Năm 1947, Pháp chiếm đóng Nghĩa Lộ, theo lời kêu gọi của Bác Hồ, thực hiện “Tiêu thổ kháng chiến”, gia đình ông bỏ lại ngôi nhà sàn 5 gian vững chãi cùng tất cả tài sản, trâu bò, ruộng vườn để tản cư vào rừng. Nhớ lại những ngày ấy, ông Trắc kể bằng một giọng đầy tự hào: “Lúc bấy giờ không có nhiều cuộc họp, băng rôn, khẩu hiệu hay biểu ngữ gì cả. Chỉ một câu rỉ tai của cán bộ Việt Minh là lập tức 4, 5 chục hộ trong thôn sẵn sàng bỏ lại hết nhà cửa, ruộng vườn vào rừng đào củ mài, ăn báng, ăn nâu sống qua ngày để ủng hộ kháng chiến…”. Ngày ấy, bố ông là Sa Văn Hán tham gia vào đội du kích, cùng bộ đội địa phương cầm súng đánh giặc. Một mình mẹ ông gánh vác việc nhà. 4 mẹ con đưa nhau vào rừng tản cư. Bởi các con còn nhỏ, cuộc sống vất vả, thiếu thốn đã khiến mẹ ông bị sốt rét ác tính mà qua đời, còn lại 3 anh em kiếm măng đào củ nuôi nhau. Năm 1952, Nghĩa Lộ giải phóng, gia đình ông trở về quê hương. Được sống trong hòa bình, song khí thế đấu tranh của nhân dân mà ông từng được chứng kiến, tấm gương chiến đấu của cha và những bài giảng giáo dục lòng yêu nước khi được đi học đã thôi thúc ông quyết tâm lên đường nhập ngũ. Ngày đăng ký ghi tên ra trận, ông Trắc suýt bị gạt lại vì thân hình quá ốm yếu, gầy gò. Một thanh niên tròn 20 tuổi mà chỉ nặng có 42 cân. Thương con nên trước lúc lên đường, bố ông còn dặn: “Mày vào đó muốn ở lại Huyện đội thì xin anh mày một câu”. Lúc ấy, ông Trắc có người anh con bác ruột làm Chính trị viên Huyện đội. Có lẽ chỉ cần nói một câu với anh họ là ông được ở lại. Trong khi đất nước còn chiến tranh, một thanh niên trai tráng lại xin ở lại để hưởng sung sướng thì hổ thẹn lắm. Nghĩ vậy, ông Trắc đã giấu nhẹm với anh về sự có mặt của mình.

Ban đầu ông Trắc được gia nhập vào Trung đoàn 148, Sư đoàn 316, tham gia quân tình nguyện chiến đấu trên nước bạn Lào. Sau đó ông được điều về Tiểu đoàn 51, phối thuộc Sư đoàn 335. Là đơn vị toàn anh em dân tộc miền núi, có sức bền và am hiểu về địa thế rừng núi nên đơn vị của ông luôn ở vị trí luồn sâu vào sau lưng địch.

Là một thanh niên người Thái ra đi với một thân hình nhỏ bé nhưng ý chí lại không hề nhỏ. Chính ý chí ấy đã rèn rũa, tôi luyện ông trưởng thành trên chiến trường. Ông Trắc được đơn vị kết nạp Đảng ngay từ chiến dịch đầu tiên (năm 1964). Kể từ đó ông như có thêm động lực cùng đồng đội chiến đấu hết mình, đi hết chiến dịch này đến chiến dịch khác trên chiến trường nước bạn, từ Nậm Thà, Nậm Bạc, Luông Pha Băng, Thượng Lào, Nam Lào đến cánh đồng Chum Siêng Khoảng… Cho đến bây giờ, khi đã ở tuổi “Thất thập cổ lai hy”, những ký ức về mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch như vẫn còn nguyên vẹn trong ông. Ông Trắc có thể đọc vanh vách những con số, diễn biến của từng trận đánh như đánh giờ nào, ngày nào, bắt được bao nhiêu tên địch, giải phóng bao nhiêu km2, thu bao nhiêu vũ khí…, song khi nhớ về những tháng ngày hoa lửa ấy, điều khiến vị tướng già xúc động lại không phải là những chiến công đó.

Cuộc trò chuyện của chúng tôi bị gián đoạn bởi tiếng nấc nghẹn ngào của Thiếu tướng Trắc. Ông khóc khi kể về đồng đội của mình, về những ngày làm nhiệm vụ thu gom thương binh, tìm đồng đội hy sinh sau mỗi trận đánh. Tôi thực sự bối rối không biết và cũng không dám lên tiếng, bởi tôi biết mình không thể ngăn được dòng nước mắt đáng trân trọng ấy. Sau vài phút lắng lòng, ông cố gắng kìm nén cảm xúc và tiếp tục kể cho tôi nghe những câu chuyện ở chiến trường. Hình ảnh những người chiến sỹ cách mạng với những cung bậc cảm xúc, tâm trạng trước, trong và sau mỗi trận chiến, họ đã chiến đấu ra sao, hy sinh anh dũng thế nào như hiện dần lên theo từng lời kể của ông. Cuối cùng ông lại yêu cầu tôi không đưa chi tiết cụ thể về họ vào bài viết. Ông bảo rằng, làm thế sẽ khơi lại nỗi đau của cả những người còn sống và những người đã ra đi, rằng những hình ảnh ấy, những cái tên ấy đã từng và sẽ mãi mãi ở trong trái tim ông, là nguồn sức mạnh, là động lực cho những người ở lại tiếp tục chiến đấu…

Phát huy bản lĩnh chính trị trên trận tuyến mới

Trong khoảng thời gian chiến đấu ở Lào (Từ năm 1964 đến 1971), Thiếu tướng Sa Minh Trắc đã 2 lần được đơn vị cử về nước tham gia các khóa đào tạo Sỹ quan Lục quân, cán bộ tiểu đoàn và đã từng được giữ lại làm giáo viên giảng dạy chính trị tại Trường Quân chính của Quân khu Tây Bắc. Đến năm 1972, ông chính thức gắn bó với công tác giảng dạy chính trị, đào tạo cán bộ cho Quân khu. Từ năm 1978 đến 1982, ông được điều về làm Hiệu trưởng Trường Quân sự Ấp Bắc. Năm 1986 về làm Huyện đội Trưởng- Ban CHQS huyện Văn Chấn. Năm 1989, Đảng bộ và nhân dân Văn Chấn tín nhiệm bầu ông làm Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện. Năm 1991, Bộ Quốc phòng, Quân ủy Trung ương gọi ông về giao nhiệm vụ mới. Trở về Quân khu, ông được giao nhiệm vụ làm Chỉ huy Phó Bộ CHQS tỉnh Yên Bái, năm 1993 làm Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu II và đến năm 1999 làm Phó Tư lệnh Quân khu II.

Trải qua nhiều vị trí công tác, nhiều nhiệm vụ khác nhau, mỗi nhiệm vụ đặt ra một yêu cầu, một trọng trách khác nhau, song với ông nhiệm vụ nào cũng đều quan trọng. Ông chia sẻ: “Dù chiến đấu ở thời chiến hay thời bình thì mặt trận nào cũng có những cam go phức tạp và khốc liệt riêng. Điều quan trọng là người chiến sỹ phải luôn xây dựng cho mình một bản lĩnh chính trị vững vàng. Bản lĩnh chính trị của người chiến sỹ Cộng sản là yếu tố cốt lõi, xuyên suốt và quan trọng để tạo nên sức mạnh tổng hợp cho quân đội. Khi là một anh lính cầm súng chiến đấu ở chiến trường, trực tiếp đối mặt với cái chết, bản lĩnh chính trị giúp tôi tiến lên phía trước. Còn khi cầm bút đào tạo con người, xây dựng lực lượng vũ trang hùng mạnh, bản lĩnh chính trị giúp tôi nhận ra rằng, muốn đào tạo người khác thì trước hết phải tự đào tạo chính mình, phải tự mình đấu tranh tránh mọi cám dỗ vật chất, tránh được những viên kẹo bọc đường luôn rình rập tấn công…”.

“Bản lĩnh” mà ông nói không chỉ là lý thuyết suông. Bản lĩnh ấy đã được tôi luyện, hun đúc từ nơi khói lửa trận mạc, và rồi nó đã được phát huy khi ông chiến đấu trên trận tuyến mới. Những năm ông được cử về làm Huyện đội Trưởng rồi được bầu làm Chủ tịch HĐND huyện Văn Chấn chính là khoảng thời gian ông được ở gần gia đình sau gần 30 năm công tác và chiến đấu. Ngày ấy, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, huyện và nhân dân Văn Chấn tín nhiệm muốn giữ ông ở lại làm cán bộ. Nếu đồng ý ở lại thì có lẽ đây là một cơ hội tốt, ông vừa được ở gần gia đình vừa có cơ hội thăng tiến bằng con đường dân sự. Nhưng bản lĩnh chính trị đã giúp ông đấu tranh tư tưởng, quyết định một lần nữa từ bỏ những lợi ích các nhân, tiếp tục lên đường cống hiến cho quân đội, cho đất nước. Trở về Quân khu giữa lúc mọi thứ đều ngổn ngang, bề bộn, ông Trắc đã cùng anh em đồng đội nỗ lực thu dọn tàn cục chiến tranh, củng cố và xây dựng LLVT để có một Quân khu “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại”.

Về giữa đời thường vẫn không quên mình là lính Cụ Hồ

Năm 2007, ông Trắc về nghỉ hưu ở bậc quân hàm Thiếu tướng. Tôi rất ấn tượng với câu nói của Thiếu tướng, rằng: “45 năm, Đảng, Bác Hồ, Quân đội và nhân dân đã giáo dục, rèn luyện tôi và các anh em đồng đội. Nay về với đời thường tuy mỗi người có một quân hàm, cấp bậc khác nhau song tất cả cùng chung một mẫu số, đều là chiến sỹ của Quân đội nhân dân Việt Nam”. Có lẽ vì không bao giờ quên mình là một chiến sỹ Cộng sản, một người lính Cụ Hồ nên đến bây giờ, dù đã ở cái tuổi “xưa nay hiếm”, Thiếu tướng vẫn chắc tay dao, tay cuốc, cùng vợ chiến đấu với gần 3ha đồi rừng; 2 ao cá; 7- 8 chục con dúi, 4- 5 chục gốc hồng các loại; hàng trăm con gà, cả một vườn rau, củ, quả sạch… hàng năm thu về cho vợ chồng ông hàng trăm triệu đồng. Hàng ngày, ông Trắc vẫn giữ thói quen trở dậy từ 5 giờ sáng. Sau bài tập thể dục và những sinh hoạt các nhân, đúng 7 giờ ông có mặt trên đồi hoặc dưới vườn. Chiều về, ông lại đi lấy báo để đọc, theo dõi, nghiên cứu tình hình thời sự, chính trị rồi gặp gỡ, đàm đạo với anh em cựu chiến binh…

Tôi hỏi ông một câu rất thật rằng, với 2 xuất lương hưu của 2 ông bà thì sao vợ chồng ông vẫn làm việc nhiều như vậy? Ông Trắc cười và bảo: “Ngày trở về, nhìn đất đai, đồi rừng bỏ không mà tôi thấy tiếc. Trong khi đó, đời sống của bà con còn nhiều khó khăn. Các con, cháu không cho vợ chồng tôi làm nhưng tôi vẫn quyết làm, phần vì quen với tác phong quân đội không thể “ăn rỗi ngồi không”, phần vì muốn làm để bà con thấy mình làm được mà làm theo…”. Đúng vậy, ông làm đâu phải vì giá trị và lợi ích vật chất. Con cháu ông cũng không muốn để bố mẹ già vất vả khi tất cả đều đã trưởng thành và có thừa điều kiện để lo cho họ một cuộc sống đủ đầy. Ông Trắc có bốn người con trai thì anh con cả là Thượng tá Sa Minh Chính, hiện là Chính ủy Trung đoàn 121- Bộ CHQS tỉnh; anh thứ hai là Thượng tá Sa Minh Nghĩa, hiện là Chính ủy Trung đoàn 174 anh hùng và 2 anh còn lại cũng đều đang công tác trong quân đội.

Cuộc đời binh nghiệp của Thiếu tướng Sa Minh Trắc được đúc kết bằng 45 năm chiến đấu và trưởng thành trong quân ngũ. Song tôi vẫn cho rằng, quá trình chiến đấu của ông, sự cống hiến cho dân tộc, cho đất nước của ông không chỉ dừng lại ở con số 45 năm ấy mà còn hơn thế nữa. Để ghi nhận những công lao, cống hiến ấy, Tổ quốc đã trao cho ông 01 Huân chương Độc lập hạng Ba; 01 Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; 03 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Nhì, Ba; 03 Huân chương Chiến sỹ vẻ vang Nhất, Nhì, Ba; 01 Huy chương Quân kỳ quyết thắng và rất nhiều Bằng khen, Giấy khen vì sự nghiệp chiến đấu và xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn