Bài viết

4. HUYỀN THOẠI DƯỚI LÒNG ĐẤT ĐỎ

Dòng sông Thạch Hãn mùa hè năm 1972 không còn màu xanh. Nước sông đỏ quạch vì phù sa trộn lẫn máu người, mặt sông đặc kín bèo lục bình và mảnh vụn của những chiếc thuyền vận tải bị đánh đắm. Bên bờ Bắc, trong cái nắng cháy da cháy thịt của gió Lào, Mẹ Thạnh – một người đàn bà gầy guộc, da đen sạm vì nắng gió – đang làm một việc mà không ai có thể tin nổi: Một mình mẹ đào hầm nuôi giấu cả một tổ đặc công nước ngay dưới chân đồn địch.

Thái Nguyên21/04/2026Vũ Quang Đại - 5A (Trưương Tiểu học Nam Tiến I)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

4. HUYỀN THOẠI DƯỚI LÒNG ĐẤT ĐỎ

Dòng sông Thạch Hãn mùa hè năm 1972 không còn màu xanh. Nước sông đỏ quạch vì phù sa trộn lẫn máu người, mặt sông đặc kín bèo lục bình và mảnh vụn của những chiếc thuyền vận tải bị đánh đắm. Bên bờ Bắc, trong cái nắng cháy da cháy thịt của gió Lào, Mẹ Thạnh – một người đàn bà gầy guộc, da đen sạm vì nắng gió – đang làm một việc mà không ai có thể tin nổi: Một mình mẹ đào hầm nuôi giấu cả một tổ đặc công nước ngay dưới chân đồn địch.

Căn hầm của mẹ không nằm ở rừng sâu, mà nằm ngay dưới gầm bếp củi lụp xụp. Cứ đêm xuống, khi tiếng pháo hạm từ biển ngoài dội vào tạm ngớt, mẹ lại một mình lụi cụi dưới ánh đèn dầu tù mù. Một tay mẹ cầm chiếc xẻng cùn, một tay mẹ bốc từng vốc đất cho vào thúng. Mẹ không dám đổ đất ra ngoài vì sợ thám báo phát hiện, mẹ đem đất rải đều ra vườn rồi trồng rau lang đè lên. Cứ thế, ròng rã nhiều tháng trời, một "mê cung" nhỏ dưới lòng đất được hình thành.

Trong hầm, sáu chiến sĩ đặc công nằm san sát nhau. Không khí đặc quánh, thiếu oxy đến mức ngọn đèn dầu cũng không cháy nổi. Trên đầu họ, tiếng ủng của lính cộng hòa nện rầm rập trên mặt đất, tiếng tra hỏi, tiếng quát tháo vang lên thường xuyên.

Mẹ Thạnh đóng vai một bà già lẩm cẩm, điếc lác để che mắt giặc. Sáng sáng, mẹ gánh đôi quang gánh đi chợ, nhưng thực chất là để quan sát tình hình địch rồi về báo cho "các con" dưới hầm. Những bữa cơm của mẹ chỉ có khoai sắn độn ít gạo mốc, nhưng mẹ luôn nhường phần trắng nhất cho chiến sĩ.

"Mẹ ơi, bọn con ở dưới này khổ một, mẹ ở trên kia khổ mười. Lỡ chúng nó phát hiện thì mẹ chết mất!" – Một chiến sĩ trẻ thầm thì qua lỗ thông hơi nhỏ xíu giấu trong đống củi.

Mẹ chỉ cười, nụ cười móm mém nhưng ánh mắt sắc lẹm: "Tụi nó là hoa, mẹ là đất. Đất phải bao bọc lấy hoa thì hoa mới nở được. Các con cứ yên tâm mà đánh giặc, mẹ còn thở là hầm còn vững."

Một buổi chiều, địch bất ngờ đổ quân càn quét gắt gao. Chúng nghi ngờ có hầm bí mật nên dùng những cây sắt nhọn đâm xuống đất dọc theo các gian bếp. Một cây sắt xuyên qua khe hở, đâm trúng vai mẹ khi mẹ đang cố tình đứng chắn trên nắp hầm. Máu chảy ròng ròng xuống lớp áo vải thô, nhưng mẹ không hề kêu một tiếng, cũng không lùi lại. Mẹ bình tĩnh cầm chiếc giẻ lau vết máu trên nền đất, miệng lẩm bẩm chửi mấy con gà làm đổ niêu cơm để đánh lạc hướng bọn lính.

Đêm đó, lợi dụng lúc địch chủ quan, mẹ đã dẫn toàn bộ tổ đặc công ra bến sông, dùng chiếc thuyền thúng nhỏ bé của mình chèo chống giữa mưa bom để đưa họ sang bờ Nam chiến đấu. Khi chiếc thuyền khuất dần trong màn sương mờ của dòng Thạch Hãn, mẹ mới ngồi thụp xuống bãi cát, vết thương trên vai bắt đầu đau nhức nhối, nhưng lòng mẹ nhẹ bẫng.

Chiến tranh kết thúc, căn hầm dưới gầm bếp năm xưa đã bị bom đánh sập, nhưng câu chuyện về người mẹ bên dòng Thạch Hãn vẫn được những người lính năm ấy kể lại cho con cháu. Với họ, mẹ không chỉ là người tiếp tế, mẹ là hiện thân của đất mẹ miền Trung: lặng lẽ, gai góc nhưng sức sống thì mãnh liệt hơn bất cứ loại vũ khí hủy diệt nào.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn