5 giờ 17 phút và bước chân đầu tiên của Việt Nam lên quỹ đạo
Sáng 19/4/2008, VINASAT-1 được phóng thành công, giúp Việt Nam lần đầu sở hữu vệ tinh viễn thông riêng, xác lập vị trí quỹ đạo 132° Đông và đưa thông tin tới vùng sâu, biên giới, hải đảo.
5 giờ 17 phút và bước chân đầu tiên của Việt Nam lên quỹ đạo
Lúc 5 giờ 17 phút sáng ngày 19 tháng 4 năm 2008 theo giờ Việt Nam, từ bãi phóng Kourou tại Guiana thuộc Pháp, tên lửa Ariane 5-ECA rời bệ phóng, mang theo vệ tinh VINASAT-1.
Ở Việt Nam, nhiều cán bộ, kỹ sư và người dân theo dõi sự kiện qua cầu truyền hình trực tiếp. Sau tiếng đếm ngược, khối thiết bị được nghiên cứu, chế tạo và chuẩn bị trong nhiều năm dần khuất vào bầu trời. Khoảnh khắc ấy đánh dấu lần đầu tiên Việt Nam sở hữu một vệ tinh viễn thông quốc gia.
Đó không đơn thuần là một vụ phóng thiết bị kỹ thuật. VINASAT-1 giúp Việt Nam xác lập chủ quyền sử dụng vị trí quỹ đạo 132 độ Đông, từng bước hoàn thiện hạ tầng thông tin quốc gia và giảm sự phụ thuộc vào dung lượng vệ tinh thuê của nước ngoài.
Ý tưởng xây dựng một hệ thống vệ tinh riêng đã được đặt ra từ nhiều năm trước. Khi mạng viễn thông Việt Nam phát triển nhanh trong thời kỳ Đổi mới, nhu cầu truyền dẫn tín hiệu thoại, dữ liệu, Internet, phát thanh và truyền hình ngày càng lớn. Mạng cáp và các trạm truyền dẫn trên mặt đất không phải lúc nào cũng có thể vươn tới vùng núi cao, các đảo xa hay những công trình giữa biển.
Việt Nam cần một phương tiện truyền dẫn có vùng phủ rộng, hoạt động độc lập với địa hình và đủ khả năng bảo đảm thông tin trong những tình huống đường truyền mặt đất bị gián đoạn.
Dự án VINASAT-1 được triển khai với VNPT là chủ đầu tư. Tháng 5 năm 2006, quá trình hợp tác chính thức với Tập đoàn Lockheed Martin của Hoa Kỳ bắt đầu. Vệ tinh được phát triển trên nền tảng A2100A, dòng vệ tinh địa tĩnh chuyên dùng cho viễn thông.
VINASAT-1 mang tổng cộng 20 bộ phát đáp, gồm 12 bộ phát đáp băng tần Ku và tám bộ phát đáp băng tần C. Vùng phủ của băng Ku bao gồm Việt Nam cùng nhiều nước Đông Nam Á. Băng C có vùng phủ rộng hơn, vươn tới khu vực châu Á – Thái Bình Dương, gồm Đông Nam Á, Ấn Độ, Nhật Bản và Australia.
Vệ tinh được thiết kế với thời gian hoạt động tối thiểu 15 năm.
Sau khi rời tên lửa đẩy, VINASAT-1 chưa lập tức dừng tại vị trí làm việc. Nó phải trải qua quá trình đưa lên quỹ đạo địa tĩnh và thực hiện nhiều thao tác kỹ thuật trước khi ổn định tại vị trí 132 độ Đông. Ở quỹ đạo này, vệ tinh chuyển động cùng tốc độ quay của Trái đất nên khi quan sát từ mặt đất, nó gần như đứng yên trên một vị trí cố định.
Cách nơi phóng hàng nghìn kilômét, một “bộ não” điều khiển đã được xây dựng tại Quế Dương, huyện Hoài Đức, Hà Nội.
Trạm Điều khiển và Khai thác vệ tinh Quế Dương có nhiệm vụ giám sát mọi thông số hoạt động của VINASAT-1. Khoảng 30 kỹ sư trẻ được phân thành các nhóm chuyên môn về vệ tinh, phân tích quỹ đạo, cao tần và phần mềm. Họ thay nhau trực 24 giờ mỗi ngày, thu nhận dữ liệu, phân tích tình trạng thiết bị và phát các lệnh điều khiển cần thiết.
Trong điều kiện hoạt động bình thường, vị trí vệ tinh vẫn phải được kiểm tra và hiệu chỉnh định kỳ. Chỉ một sai lệch nhỏ nếu không được phát hiện, xử lý đúng lúc cũng có thể ảnh hưởng đến vùng phủ sóng và chất lượng dịch vụ.
Năm đầu tiên, các chuyên gia của Lockheed Martin cùng làm việc tại trạm để hỗ trợ quá trình chuyển giao. Sau thời gian học tập và vận hành thực tế, các kỹ sư Việt Nam từng bước trực tiếp làm chủ hệ thống.
Khi VINASAT-1 đi vào khai thác, các kênh VTV1, VTV2, VTV3 và VTV4 được truyền qua vệ tinh tới mọi miền đất nước và một số quốc gia trong khu vực. Nhiều kênh thông tin trước đây phải thuê vệ tinh nước ngoài được chuyển sang sử dụng hạ tầng của Việt Nam.
Theo VNPT, dung lượng thiết kế của VINASAT-1 có thể phục vụ hơn 10.000 kênh thoại, Internet và truyền dữ liệu, cùng hơn 120 kênh truyền hình chất lượng cao.
Nhưng ý nghĩa của vệ tinh không chỉ nằm ở những con số.
Tại các khu vực mà cáp quang và truyền dẫn mặt đất khó vươn tới, tín hiệu từ VINASAT-1 trở thành một chiếc cầu vô hình. Các trạm vệ tinh được triển khai tại những địa bàn xa xôi như Ý Tý, Bát Xát của tỉnh Lào Cai; huyện đảo Phú Quốc; các đảo thuộc quần đảo Trường Sa và Nhà giàn DK1 ngoài thềm lục địa phía Nam.
Qua vệ tinh, tín hiệu phát thanh, truyền hình, điện thoại và dữ liệu có thể vượt núi cao, biển rộng để đến những nơi từng gặp nhiều khó khăn về thông tin liên lạc. Khi thiên tai làm hư hỏng đường dây trên mặt đất, thông tin vệ tinh còn đóng vai trò dự phòng, hỗ trợ duy trì liên lạc phục vụ chỉ đạo và cứu hộ.
Đến năm 2011, hơn 80% dung lượng băng tần của VINASAT-1 đã được đưa vào sử dụng. Khách hàng không chỉ có các đài phát thanh, truyền hình và doanh nghiệp trong nước, mà còn có những đối tác viễn thông tại Lào, Thái Lan và Singapore.
Bốn năm sau VINASAT-1, Việt Nam tiếp tục phóng VINASAT-2. Hai vệ tinh tạo thành một hệ thống có khả năng hỗ trợ, dự phòng dung lượng cho nhau, góp phần tăng độ an toàn của hạ tầng viễn thông quốc gia.
VINASAT-1 không phải vệ tinh do Việt Nam tự chế tạo hoàn toàn. Nhưng đây là vệ tinh viễn thông đầu tiên được Việt Nam đầu tư, sở hữu, quản lý và trực tiếp vận hành. Từ dự án ấy, một đội ngũ kỹ sư điều khiển vệ tinh của Việt Nam được hình thành và trưởng thành trong thực tế.
Sáng 19 tháng 4 năm 2008, tên lửa rời bệ phóng ở một vùng đất cách Việt Nam nửa vòng Trái đất. Nhưng tại Quế Dương, những kỹ sư Việt Nam bắt đầu một công việc kéo dài ngày đêm: giữ cho vệ tinh hoạt động đúng quỹ đạo và giữ cho dòng thông tin luôn nối liền đất liền với biên giới, hải đảo.
Đó là một dấu mốc của thời kỳ Đổi mới và hội nhập – khi chủ quyền, năng lực quốc gia không chỉ được khẳng định trên đất liền và biển cả, mà còn được mở rộng tới không gian.


