5. HÀ VĂN XÚM
Giữa rừng sâu biên giới – Những trận chiến không quên của người lính tình nguyện
Những năm đầu thập niên 1980, khi đất nước ta vừa bước ra khỏi chiến tranh nhưng biên giới Tây Nam vẫn còn rực lửa, ông Hà Văn Xúm đã lên đường nhập ngũ, sau huấn luyện, ông làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia, chiến đấu chống lại tập đoàn diệt chủng Pôn Pốt để bảo vệ Tổ quốc và giúp đỡ nhân dân nước bạn thoát khỏi thảm họa chiến tranh.
Ông cùng đồng đội phối hợp với quân đội của Campuchia, trinh sát, chiến đấu trong những “phum” – nơi địch trà trộn sâu vào dân thường. Quân Pôn Pốt được viện trợ đầy đủ vũ khí, trang bị, lập căn cứ lớn, dựa vào rừng sâu, mìn gài dày đặc và chiến thuật đánh nhanh, rút gọn để bảo toàn lực lượng. Cuộc chiến vì thế vô cùng khốc liệt và dai dẳng.
“Trong một trận đánh đầu tiên, ba đồng đội đi trước đã anh dũng hy sinh ngay trong buổi sáng. Đến trưa, địch tiếp tục phục kích, trung đội của ông bắn hạ được một tên địch, số còn lại cởi bỏ quân trang bỏ chạy”. Những hình ảnh ấy khắc sâu vào tâm trí người lính trẻ, để hiểu rằng: chiến tranh không có chỗ cho sự chủ quan.
Phần lớn thời gian, ông Xúm chiến đấu giữa rừng sâu, nơi sốt rét, đói khát và thương vong luôn rình rập. Có đồng đội bị ốm nặng phải cáng gần 30km mới đến được nơi cứu chữa; người bị thương nặng thì máy bay vào đón, bởi nếu tự di chuyển rất dễ rơi vào vòng vây hoặc mìn gài của địch.
Đến năm 1983, ông tham gia trận cứ điểm Băng Ktum – một trong những trận đánh ác liệt nhất. Cuộc chiến kéo dài suốt ba ngày đêm, ta phải leo đồi, vượt những con đường bê tông chỉ rộng khoảng 1 mét, dùng pháo làm hỏa lực chủ yếu. Đến ngày thứ ba, pháo ta bắn trúng kho đạn 5K9 của địch, khiến chúng tháo chạy trong hoảng loạn, không đầu hàng. Giữa tiếng súng dày đặc, nỗi sợ lớn nhất của người lính không phải là cái chết, mà là bị lạc rừng, không biết đâu là đường trở về khi xung quanh chỉ toàn tiếng đạn nổ.
Năm 1984–1985, ông tiếp tục chiến đấu tại các cứ điểm đối diện với Sư đoàn “Anh Hùng” của Pôn Pốt – sư đoàn mạnh nhất của địch. Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp chặt chẽ với quân đội Campuchia, cùng hợp đồng tác chiến, thống nhất giờ nổ súng bằng pháo hiệu, tiến công từ nhiều hướng. Dù địch thường đánh xong rồi rút, nhưng ta vẫn thu được nhiều vũ khí, đạn dược, từng bước làm suy yếu lực lượng đối phương.
Đặc biệt, trong trận đánh then chốt ngày 05/3/1985, lực lượng từ nhiều tỉnh biên giới dồn về, chiến đấu liên tục bốn ngày đêm. Ban đêm không có đèn, bộ đội phải dùng loại lá cây đặc biệt trong rừng có khả năng phát sáng buộc sau ba lô của người đi trước để người đi sau bám theo. Thương vong rất lớn: có lượt đánh hy sinh ba người, bị thương hai người, một trung đội chỉ còn hơn chục chiến sĩ. Có những buổi sáng chiếm được trận địa an toàn, nhưng đến trưa quay lại đưa các đồng chí đã anh dũng hy sinh trở về thì giặc lại tiếp tục phục kích.
Hậu cần vô cùng thiếu thốn: gạo sống rang lên ăn dần, cơm nguội rang khô để dành, lâu lâu mới có thịt hộp, nước suối có khi chung nguồn nước với địch vì địch cũng nhằm sử dụng dòng nước đó để uống chính vì thế mà khi vừa nấu cơm, lấy nước vừa phải cảnh giới và cũng có những ngày không thể lấy được nước để nấu cơm. Mỗi khi đồng đội bị thường hay anh dũng hy sinh, việc di chuyển rất khó khăn, nhưng lúc đó nhân dân Campuchia đã hỗ trợ chở thương binh bằng “xe bò” – xe thồ, khi đó cán bộ, chiến sĩ chúng ta thường đi bộ theo bảo vệ suốt đêm, đến sáng lại quay về đơn vị tiếp tục chiến đấu. Tình quân dân, tình hữu nghị Việt Nam – Campuchia được hun đúc chính trong những hoàn cảnh sinh tử như thế.
Sau 3 năm 6 tháng chiến đấu tại Campuchia, cộng với 4 tháng huấn luyện và hành quân, ông Hà Văn Xúm hoàn thành nhiệm vụ quốc tế, trở về quê không báo trước. Ngày ông về, các mẹ, các chị chạy ra ôm chầm lấy, bật khóc, bởi đâu nghĩ rằng ngày gặp lại đến sớm hơn.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những ký ức ấy là minh chứng sống động cho sự khốc liệt của chiến tranh, cho tinh thần quốc tế cao cả, cho sự anh dũng, hy sinh thầm lặng của lớp cha anh. Câu chuyện của ông Hà Văn Xúm nhắc nhở thế hệ thanh niên hôm nay rằng: Hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu xương của biết bao người. Mỗi người trẻ cần sống có trách nhiệm, có lý tưởng, biết trân trọng quá khứ, không ngừng học tập, rèn luyện và cống hiến để xứng đáng với những gì thế hệ đi trước đã hy sinh cho Tổ quốc và tình hữu nghị giữa các dân tộc.



