5 ngày cuối dưới hầm
Đối diện bức thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh là di vật của liệt sĩ Lê Binh Chủng - hai tấm ảnh nhỏ, một cuốn sổ tay, cây bút và vài lá thư cũ, tất cả đều sẫm màu thời gian.
Đối diện bức thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh là di vật của liệt sĩ Lê Binh Chủng - hai tấm ảnh nhỏ, một cuốn sổ tay, cây bút và vài lá thư cũ, tất cả đều sẫm màu thời gian. Câu chuyện của anh được phát hiện vào khoảng cuối năm 2000, khi thi công hệ thống thoát nước trong Thành cổ. Đào đến một đoạn, tốp công nhân gặp nền đất cứng bất thường, khác hẳn dự kiến ban đầu. Đào kỹ hơn, họ chạm vào một hầm trú ẩn kiên cố. Bên trong là 5 hài cốt. Trong số đó có một người vẫn ghì chặt chiếc xắc cốt vào ngực, như ôm trọn những ký ức cuối cùng của đời mình.
Khi mở chiếc xắc, người ta thấy một bọc nilon. Bên trong là sổ tay đảng viên, nhật ký, 3 lá thư - trong đó có thư của chị Phan Thị Biển Khơi, vợ liệt sĩ Lê Binh Chủng. Những trang giấy dính bết, chữ mất chữ còn lẫn lộn sau 28 năm nằm dưới lòng đất. Đặc biệt, trận lũ lớn tháng 11/1999 tràn qua làm giấy thêm mục, mực nhòe đi, nhiều chỗ biến mất hẳn. Người ta phải gỡ từng tờ, phơi từng ký ức, ghép lại từng mảnh để hình dung những ngày cuối cùng trong căn hầm bị bom vùi.
Câu chuyện như sau. Đầu tháng 8/1972, một quả bom lớn từ máy bay AD-6 đánh sập góc tường thành, đè lên căn hầm của 5 người lính. Bên ngoài đồng đội gọi nhau í ới, trong hầm 5 người kêu cứu nhưng mọi âm thanh đều như bị đất nuốt. Các đợt tấn công nối tiếp, người bên ngoài bị cuốn vào trận; người bên trong đếm ngược thời gian sống của mình. Không khí cạn dần, mọi hy vọng tắt dần. Bốn người lần lượt tắt thở. Chỉ còn Lê Binh Chủng - người chỉ huy - sống lâu hơn để vuốt mắt đồng đội, xếp lại tư thế nằm, ghi vội nhật ký, đọc dè sẻn từng đoạn thư của vợ như nhấm từng giọt nước cuối cùng. Trong bóng tối đặc quánh ấy, hơi thở của anh trở thành hơi thở cuối cùng của cả 5 người.
Trong sổ tay của Lê Binh Chủng, những trang đầu ghi công tác của đơn vị, lệnh giao ban, công việc thường ngày. Về sau chữ bắt đầu lệch đi, câu cú thở dốc. Anh viết: "Hôm nay, hình như là ngày thứ hai… còn nghe rõ tiếng anh em gọi nhau… đèn pin yếu dần… lấy thư của Khơi ra đọc… không dám đọc hết một lần… để dành mai…". Rồi lại viết: "Hôm nay, chiến sĩ thứ tư… lại hy sinh… còn một mình… đèn đã rất yếu… nhớ con… nhớ Khơi…".
Các mảnh câu được nhặt lại như những mảnh vải chắp vá. Nhưng sợi chỉ xuyên suốt thì rõ ràng: một người lính còn sống vì đã trót là người chỉ huy; một người chồng còn gắng vì vẫn là chồng của Biển Khơi, cha của đứa con chưa kịp nhìn mặt. Người ta bảo khi cái chết đến gần, ý nghĩ cuối cùng của con người là về điều họ yêu thương nhất. Ở căn hầm này, chính điều yêu thương đã giữ anh sống thêm 5 ngày. Ngày cuối cùng, ước đoán là 7/8/1972, Lê Binh Chủng gói gọn giấy tờ, ôm chặt xắc cốt, ngồi tựa lưng vào vách hầm, chờ bóng tối. Giấy báo tử sau này ghi 3/8/1972, ngày hầm bị vùi. Nhưng trong sổ tay, kim đồng hồ và ý thức về "ngày mai thứ 5" như một sự phản bác lặng lẽ, nhắc rằng anh đã sống thêm để giữ lại chứng tích cuối cùng của cả 5 người.
Hai bức thư của chị Phan Thị Biển Khơi đề ngày 20/1/1972 và 15/5/1972 đọc lên nao lòng. Cả một hậu phương đi vào chiến tranh qua những câu chữ bình dị, kể chuyện con bỏ bú, ăn cơm sẵn cá, cầu Lý Hòa bị cắt, vừa gặt vừa tập quân sự, máy bay oanh tạc phải ngủ hầm, mùa lúa tốt cả nhà khỏe. Và có một câu như khắc vào tâm khảm người lính: "Khi nước nhà thống nhất, chúng ta gặp nhau đều là những người cộng sản đỏ". Chính những bức thư ấy, trong hoàn cảnh ngặt nghèo, trở thành ánh sáng diệu kỳ thắp lên 5 đêm cuối cùng trong căn hầm tối, nơi sự sống đang dần lịm tắt.
Anh Lê Binh Chủng và chị Phan Thị Biển Khơi gặp nhau ở Quảng Bình, khi anh Chủng đang đóng quân tại đây. Họ yêu nhau và được đơn vị của anh tổ chức một lễ cưới giản dị. Gia đình anh Chủng không hề hay biết. Sau này, chị Khơi từng tìm về quê chồng nhưng không lần ra địa chỉ. Mãi đến khi hài cốt liệt sĩ Chủng được cất bốc, gia đình mới hay anh từng có vợ, rồi mới biết anh có một người con trai.
Từ 28/6 đến 16/9/1972, 328.000 tấn bom đạn trút xuống Thành cổ và thị xã Quảng Trị, ta và địch giành giật từng thước đất để lấy đà cho bàn đàm phán Paris. Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy, nguyên Phó tư lệnh Quân khu 2 (khi ấy là Trung đoàn phó Trung đoàn 9, Sư đoàn 304), từng nói: "Trung bình một ngày đêm ta hy sinh một đại đội - khoảng 100 người". Con số lạnh như gió đông. Nhưng hai kỷ vật kia - bức thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh và di vật của liệt sĩ Lê Binh Chủng - lại làm gió hóa thành hơi người. Bộ phim "Mùi cỏ cháy" có câu thoại ám ảnh: "Mùa hè năm ấy, hy sinh nhiều quá, toàn là lính trẻ". Đứng giữa Thành cổ, tôi bỗng nhớ câu ấy. Lê Văn Huỳnh "đi nghiên cứu bí mật trong lòng đất" khi chưa kịp làm tròn bổn phận một người chồng. Lê Binh Chủng ở lại 5 ngày trong hầm vùi, đọc thư từng đoạn như nhấp từng ngụm thở. Những người lính trẻ - có khi bằng hoặc ít tuổi hơn những người đang đọc những dòng này - đã sống và chết rất mực bình thường. Chính sự bình thường rành rẽ ấy làm sự hy sinh của họ trở nên phi thường.
Ở Thành cổ, tiếng thuyết minh của hướng dẫn viên đôi khi đứt quãng, không phải vì thiếu thông tin mà vì nghẹn. Chiến tranh không chỉ là khói lửa hay con số hy sinh, mà còn là con người thật, tình yêu thật và nỗi chờ đợi thật - những điều thầm lặng nhưng vĩnh viễn còn sống trong ký ức Thành cổ hôm nay.


