50 năm mùa Xuân thống nhất: Câu chuyện của những chiến sĩ lái xe tăng
50 năm mùa Xuân thống nhất: Câu chuyện của những chiến sĩ lái xe tăng
Lần giở những trang hồi ký của những người lính lái xe tăng trên chặng đường chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, dù chiến tranh đã lùi xa, ta vẫn như nghe rõ nhịp đập của một thời đạn bom. Trong từng con chữ là những khoảnh khắc sống, chiến đấu, hy sinh vì Tổ quốc vẫn hiện lên nguyên vẹn, in đậm trong ký ức người trong cuộc và sống động trên mỗi trang giấy. Rất nhiều câu chuyện được kể lại bởi những người đã đi qua chiến tranh; mỗi câu chuyện gắn với một giai đoạn lịch sử, một hoàn cảnh chiến trường, một vùng đất và một con người cụ thể. Nhưng tựu trung, tất cả đều gặp nhau ở một điểm chung: lý tưởng độc lập, khát vọng hòa bình và thống nhất non sông. Nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2017), tác giả xin được lần theo một vài ký ức của những chiến sĩ lái xe tăng thuộc Binh chủng Tăng – Thiết giáp trong mùa xuân lịch sử năm ấy.
Đầu năm 1975, Trung ương Đảng và Bộ Chính trị hoàn chỉnh quyết tâm chiến lược: gấp rút chuẩn bị mọi mặt để kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Để tạo điều kiện cho miền Nam “đánh lớn”, mà trực tiếp là Chiến dịch Tây Nguyên, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định cử Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng, cùng một số cán bộ cấp cao vào chiến trường miền Nam, lập một bộ phận đại diện Quân ủy Trung ương – Bộ Tổng Tư lệnh với mật danh Đoàn A.75.
Trong tác phẩm Tổng hành dinh trong mùa xuân đại thắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kể lại không khí ra trận của mùa xuân năm 1975: ngày 5-2-1975, Đoàn A.75 lên đường đúng dịp nhân dân cả nước đang tưng bừng đón xuân Ất Mão. Công tác bảo mật, nghi binh được triển khai chặt chẽ để đánh lạc hướng địch. Ra trận ngay thời điểm “năm hết Tết đến” không chỉ tạo thêm yếu tố bất ngờ, mà còn nối dài một truyền thống đẹp của dân tộc: từ Tết Kỷ Dậu với chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa năm 1789, đến Tết Mậu Thân với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968. Vẫn vui xuân, nhưng không quên nhiệm vụ đánh giặc; có khi “đánh trước, ăn Tết sau”; tiếng súng tiến công cũng là tiếng pháo mừng xuân, miễn sao giành được thế chủ động, bất ngờ trước kẻ thù. Đoàn A.75, dưới sự chỉ huy của Đại tướng Văn Tiến Dũng, lên đường với khí thế và quyết tâm như thế.
Trong bầu không khí ấy, Đại tá Nguyễn Chí Tam – sau này là Phó Tư lệnh Kỹ thuật Quân đoàn 26, Phó Tham mưu trưởng Binh chủng Tăng – Thiết giáp – vẫn không quên những ngày đi cùng Lữ đoàn xe tăng 203 trong mùa xuân đại thắng. Ông nhớ lại: tháng 2-1975, khi đang là Hiệu phó Trường Sĩ quan Tăng – Thiết giáp, ông được gọi về Bộ Tư lệnh Binh chủng để kiểm tra, chuẩn bị cho Lữ đoàn 215 nhận nhiệm vụ. Chưa kịp dứt công việc, cán bộ đơn vị lại báo: ông phải trở về ngay để cùng Bộ Tư lệnh Binh chủng và một số cán bộ hành quân vào mặt trận Quảng – Đà. Hành trang chiến dịch của ông và đồng đội giản dị mà quen thuộc: tăng võng, bạt, quần áo, lương khô. Sáng 7-3-1975, đoàn cán bộ lên đường, không ai ngờ rằng đó sẽ là chuyến đi chiến trường cuối cùng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Quân giải phóng hành quân thần tốc, tiến công giải phóng thị xã Tân An (Long An), tháng 4-1975.
Trong dòng hồi ức về những ngày chuẩn bị cho trận đánh quyết định, Tư lệnh Binh chủng Tăng – Thiết giáp Lê Xuân Kiện kể lại những chi tiết đặc biệt khi ông nhận nhiệm vụ chỉ huy đoàn cán bộ vào Nam giúp các đơn vị khôi phục, sửa chữa xe tăng – thiết giáp và tập huấn cán bộ về cách đánh hiệp đồng có xe tăng tham gia. Chiều 20-9-1974, sau giờ làm việc, ông về nghỉ tại trạm 66 (Bộ Quốc phòng) thì gặp anh Phạm Viễn, cán bộ Tuyên huấn Phòng Chính trị Binh chủng Tăng – Thiết giáp. Anh Viễn báo tin: theo lệnh của Bộ, ông phải thu xếp công việc ở Hà Nội, trở về Binh chủng để chuẩn bị đi công tác miền Nam.
Đúng 8 giờ ngày 21-9-1974, tại cơ quan Bộ Tổng Tham mưu, ông được Đại tướng Văn Tiến Dũng tiếp và giao nhiệm vụ: chỉ huy một đoàn cán bộ cùng thợ sửa chữa các loại xe tăng – thiết giáp vào miền Nam, giúp các đơn vị khôi phục, sửa chữa trang bị và tập huấn cán bộ về cách đánh hiệp đồng binh chủng có xe tăng tham gia, trên địa bàn từ Quảng Trị, Nam Lào, Tây Nguyên đến miền Đông Nam Bộ, chuẩn bị cho hoạt động Đông – Xuân 1974-1975.
Ngày 5-10-1974, tại Núi Đanh, đoàn cán bộ hành quân bằng hai xe con chở cán bộ và hai xe ô tô tải chở lực lượng kỹ thuật. Trong hơn hai tháng, đoàn đã sửa chữa xe tăng và tổ chức tập huấn cho các đơn vị Tăng – Thiết giáp ở Quảng Trị, Nam Lào, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ. Đầu tháng 1-1975, đoàn trở lại chiến trường Tây Nguyên theo lệnh của đồng chí Vũ Lăng.
Đến trung tuần tháng 2-1975, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên họp bàn kế hoạch tiến công Đức Lập và Buôn Ma Thuột. Thiếu tướng Lê Xuân Kiện may mắn được tham dự. Sau khi Tham mưu phó mặt trận B3 báo cáo xong, Đại tướng Văn Tiến Dũng đề nghị các thành viên phát biểu bổ sung. Khi mọi người còn đang im lặng, ông chỉ vào Thiếu tướng Lê Xuân Kiện:
Đại tướng muốn nghe ý kiến đại diện lực lượng xe tăng. Thiếu tướng Kiện đồng ý với việc tăng cường một đại đội T-54 cho Sư đoàn 10 đánh Đức Lập, nhưng nhấn mạnh: phải hết sức cân nhắc, chỉ sử dụng xe tăng khi thật cần thiết, để giữ bí mật tuyệt đối về sự xuất hiện của tăng – thiết giáp cho trận đánh Buôn Ma Thuột. Kế hoạch là dồn toàn bộ lực lượng xe tăng – thiết giáp của B3 cho trận Buôn Ma Thuột; mỗi trung đoàn chủ công được tăng cường một đại đội T-54, đồng thời tổ chức một mũi thọc sâu gồm tiểu đoàn tăng và đại đội thiết giáp chở bộ binh đánh thẳng vào sở chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy. Chỉ khi Đức Lập không thể dứt điểm bằng lực lượng bộ binh và hỏa lực dự bị, đại đội tăng mới được đưa vào sử dụng.
Thực tế chiến đấu sau đó đã kiểm chứng nhận định ấy. Trong quá trình đánh Đức Lập, Sư đoàn 10 đã chiếm được một số mục tiêu quan trọng, song vẫn còn những vị trí chưa giải quyết xong. Sư trưởng Sư đoàn 10 xin cho đưa đại đội xe tăng dự bị vào hoàn tất nhiệm vụ. Khi Tham mưu trưởng mặt trận hỏi ý kiến, Thiếu tướng Lê Xuân Kiện vẫn giữ quan điểm: trước hết phải kiểm tra và sử dụng hết lực lượng bộ binh dự bị, hỏa lực DKZ… chỉ khi không thể dứt điểm mới dùng đến xe tăng, để bảo toàn yếu tố bất ngờ cho chiến dịch Buôn Ma Thuột. Cuối cùng, nhờ sử dụng khéo lực lượng dự bị, Sư đoàn 10 đã giải quyết được các mục tiêu còn lại mà không cần đưa xe tăng vào.
Đại tướng Văn Tiến Dũng và các đồng chí trong Bộ Chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên trao đổi kế hoạch tổng tiến công mùa xuân 1975.
Sau thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên, cục diện chiến trường thay đổi sâu sắc. Bộ Chính trị quyết tâm đẩy mạnh tiến công, giải phóng miền Nam trong thời gian ngắn nhất. Từ Tây Nguyên, công tác chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn – Gia Định được khẩn trương tiến hành. Thiếu tướng Lê Xuân Kiện nhớ lại buổi làm việc ngắn nhưng rất gấp gáp với Đại tướng Văn Tiến Dũng về vấn đề đạn pháo xe tăng.
Đại tướng hỏi thẳng: sau hai trận Buôn Ma Thuột và Cheo Reo, lực lượng xe tăng – thiết giáp của B3 còn đủ khả năng tiếp tục chiến đấu hay không. Thiếu tướng Kiện báo cáo: xe cộ, khí tài, dầu mỡ cơ bản vẫn đảm bảo, nhưng khó khăn lớn nhất là thiếu đạn pháo 100 mm, không đủ để trang bị hai cơ số đạn cho mỗi xe như yêu cầu tác chiến ở Sài Gòn. Đạn pháo 100 mm trong các kho của B3 hầu như đã sử dụng hết.
Trước yêu cầu phải giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa, nếu chở đạn pháo bằng ô tô từ miền Bắc vào thì không kịp, Thiếu tướng Kiện đề nghị dùng máy bay vận tải IL-18 chở khoảng 2.000 viên đạn pháo 100 mm từ Kho của Bộ Tư lệnh Tăng – Thiết giáp tại Gia Lâm vào Tây Nguyên. Với phương án này, chỉ trong vòng một tuần, mỗi xe tăng có thể được bảo đảm từ 2 đến 2,5 cơ số đạn. Đại tướng Văn Tiến Dũng đồng ý, giao cho cơ quan tham mưu phối hợp với Tổng cục Hậu cần tổ chức vận chuyển bằng đường không, cho máy bay hạ cánh tại sân bay Hòa Bình, phía nam Buôn Ma Thuột khoảng 8 km.
Nhờ sự chỉ đạo quyết liệt và những giải pháp kịp thời đó, đến thời điểm mở Chiến dịch Hồ Chí Minh, lực lượng xe tăng – thiết giáp ta trên toàn miền Nam đã có thể huy động hơn 400 xe trên các hướng vào Sài Gòn – Gia Định, đối đầu với khoảng 1.700–1.800 xe tăng, thiết giáp của địch. Bộ Tư lệnh còn tăng cường thêm hai tiểu đoàn T-54 từ miền Bắc vào chiến trường B2 để bổ sung sức đột kích cho các quân đoàn chủ lực.
Trong thượng tuần tháng 4-1975, Bộ Tư lệnh Chiến dịch thông qua kế hoạch và quyết tâm chiến đấu của các quân đoàn trên năm hướng tiến công vào Sài Gòn – Gia Định. Từ ngày 25 đến 30-4, trên các hướng, quân ta đồng loạt nổ súng, từng bước phá vỡ tuyến phòng thủ của địch, tạo điều kiện cho các mũi thọc sâu đánh vào những mục tiêu trọng yếu như Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất, Quân cảng Sài Gòn, Bộ Tư lệnh Cảnh sát… Đặc biệt trên hướng Đông – Nam, Lữ đoàn xe tăng 203, được tăng cường một trung đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo binh và một tiểu đoàn pháo cao xạ, đã dũng mãnh tiến công, đánh thẳng vào Dinh Độc Lập, buộc Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện lúc 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975.
Chiến tranh kết thúc, người lính trở về với đời thường, nhưng ký ức về đồng đội đã ngã xuống vẫn còn đó, vẹn nguyên trong sâu thẳm tâm trí. Những chiến sĩ tăng – thiết giáp hôm nay vẫn nhớ như in tên tuổi và khoảnh khắc hy sinh của đồng đội ngay trên đường phố Sài Gòn trước giờ toàn thắng.
Đó là Nguyễn Xuân Trường, Chính trị viên Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn xe tăng 273. Khi xe tăng của anh vọt lên dẫn đầu đội hình, anh mở nắp tháp pháo, đứng nửa người ra ngoài, vẫy tay ra hiệu cho trung đội 1 khẩn trương tiến lên, thì trúng đạn và anh dũng hy sinh.
Đó là anh Ngô Văn Nhỡ, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn xe tăng 203, ngã xuống khi nhô người qua cửa tháp pháo để quan sát chiến trường.
Đó là chiếc xe tăng K63-85, số hiệu 707 của Lữ đoàn 203, đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và hy sinh đến người lính tăng cuối cùng trong trận đánh chiếm căn cứ Thủ Đức (Trường Cây Mai) ngày 30-4-1975.
Các anh, cũng như hàng triệu thanh niên ở khắp mọi miền đất nước, đã chấp nhận nằm lại nơi chiến trường, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng vì độc lập dân tộc, vì lý tưởng tự do.
Viết lại những câu chuyện của người lính lái xe tăng trong mùa xuân đại thắng cách đây năm thập cũng là một nén tâm nhang tưởng nhớ, tri ân những người đã ngã xuống, những người đã để lại một phần máu thịt của mình trên chiến trường, và cả những người đã dành trọn tuổi xuân cho Tổ quốc. Nhờ họ, đất nước mới có được hòa bình, thống nhất như hôm nay.
Tổng hợp và chỉnh sửa.
Nguồn: Bảo tàng lịch sử Việt nam



