THỜI KỲ HÌNH THÀNH VÀ TRƯỞNG THÀNH CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ KHÁNG CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC
(1944-1954)
Từ năm 1930 - 1931 và trong những năm vận động cách mạng, tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền (1939 - 1945), một số tổ chức vũ trang cách mạng do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo đã ra đời. Đó là Tự vệ đỏ (còn gọi là tự vệ công nông) trong phong trào cách mạng 1930-1931, đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh; các đội du kích trong khởi nghĩa Nam Kỳ, khởi nghĩa Bắc Sơn (1940); các trung đội Cứu quốc quân và các đội du kích ở Cao - Bắc - Lạng (1941-1944), đội vũ trang Cao Bằng (1941), một số tổ chức vũ trang ở chiến khu Quang Trung (Hòa - Ninh - Thanh), chiến khu Trần Hưng Đạo (Đông Triều), chiến khu Vân (Lào Cai - Yên Bái), Đội tuyên truyền xung phong Hoàng Diệu (Hà Nội)...
NĂM 1944 Tháng 12.
Lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Toàn văn chỉ thị như sau:
“1. Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực.
Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên.
2. Đối với các đội vũ trang địa phương: đưa các cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến.
3. Về chiến thuật: vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung.
Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác.
Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam. Tháng 12 năm 1944 Hồ Chí Minh"1
22 tháng 12.
Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập tại một khu rừng giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Đội gồm 34 chiến sĩ, có 34 khẩu súng các loại, biên chế thành ba tiểu đội, có chi bộ Đảng lãnh đạo.
Đội trưởng: Hoàng Sâm. Chính trị viên: Xích Thắng.
Quản lý: Văn Tiên (tức Lộc Văn Lùng). Đồng chí Võ Nguyên Giáp được Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh ủy nhiệm tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy tuyên bố thành lập Đội: “Nhiệm vụ mà Đoàn thể ủy thác cho chúng ta là một nhiệm vụ quan trọng và nặng nề. Chính trị trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến, nhiệm vụ ấy có tính chất là một nhiệm vụ giao thời. Vận dụng vũ trang tuyên truyền để kêu gọi toàn dân đứng dậy, chuẩn bị cơ sở chính trị và quân sự cho cuộc khởi nghĩa sau này... Theo chỉ thị của Đoàn thể, dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, tôi xin tuyên bố: Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân thành lập và hạ lệnh cho các đồng chí tiến lên con đường vũ trang tranh đấu...”2.
Tiếp đó, toàn Đội long trọng tuyên đọc Mười lời thề danh dự của Đội quân giải phóng Việt Nam.
“Chúng tôi, đội viên Đội quân giải phóng Việt Nam, xin lấy danh dự một người chiến sĩ cứu quốc mà thề dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh:
1. Xin thề: Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để chống xâm lược và bọn việt gian phản quốc, để giải phóng cho toàn dân Việt Nam, làm cho nước Việt Nam trở nên một nước Dân chủ, Độc lập, Tự do, ngang hàng với các nước Dân chủ trên thế giới.
2. Xin thề: Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên, khi nhận một nhiệm vụ gì sẽ tận tâm, tận lực thi hành cho nhanh chóng và chính xác.
3. Xin thề: Bao giờ cũng kiên quyết phấn đấu, dù gian lao khổ hạnh cũng không phàn nàn, vào sống ra chết cũng không sờn chí, khi ra trận mạc quyết chí xung phong, dù đầu rơi máu chảy cũng không lùi bước.
4. Xin thề: Lúc nào cũng khẩn trương, hoạt bát, hết sức học tập, chiến đấu để tự rèn luyện thành một người quân nhân cách mạng, xứng đáng là một người chiến sĩ tiên phong giết giặc, cứu nước.
5. Xin thề: Tuyệt đối giữ bí mật cho mọi việc của đội như nội dung, tổ chức, kế hoạch hành động cùng những người chỉ huy trong đội và giữ bí mật cho tất cả các đoàn thể cứu quốc.
6. Xin thề: Nếu trong lúc chiến đấu bị quân địch bắt được, dù bị cực hình tàn khốc thế nào, cũng quyết một lòng trung thành với sự nghiệp cứu quốc, không bao giờ phản bội xưng khai.
7. Xin thề: Hết sức ái hộ các bạn chiến đấu trong đội cũng như ái hộ bản thân, hết lòng giúp nhau trong lúc thường cũng như lúc ra trận.
8. Xin thề: Bao giờ cũng chủ trương giữ gìn vũ khí của Đội, quyết không để cho vũ khí hư hỏng hoặc rơi vào tay quân thù.
9. Xin thề: Khi tiếp xúc với dân chúng sẽ làm đúng với ba điều nên: kính trọng dân, cứu giúp dân, bảo vệ dân; và ba điều răn: không dọa nạt dân, không lấy của dân, không quấy nhiễu dân để gây lòng tin cậy ái đới của dân chúng, thực hiện quân dân nhất trí, cứu nước diệt gian.
10. Xin thề: Bao giờ cũng nêu cao tinh thần tự phê bình và sửa chữa giữ tư cách cá nhân mô phạm, không làm điều gì hại đến thanh danh của đội quân giải phóng và hại đến quốc thể Việt Nam”.
Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là một tác phẩm lý luận quân sự, thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực quân sự. Chỉ thị xác định một số vấn đề cơ bản của đường lối quân sự và một số vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng ta và dân tộc ta trong thời đại mới.
Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 22 tháng 12 năm 1944 đánh dấu sự ra đời của một tổ chức quân sự mới của dân tộc Việt Nam. Ngày đó được xác định là ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.
25 và 26 tháng 12.
Trận Phai Khắt và trận Nà Ngần. Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh: “Trong một tháng phải có hoạt động. Trận đầu nhất định phải thắng lợi”; ngày 25, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã cải trang, dùng mưu tập kích diệt đồn Phai Khắt (xã Tam Lộng, tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng); ngày 26 diệt đồn Nà Ngần (cách Phai Khắt 15 ki-lô-mét về phía đông-bắc) bắt 30 lính ngụy, diệt hai sĩ quan (một sĩ quan Pháp), thu vũ khí. Đây là hai trận đánh đầu tiên, thể hiện sự gan dạ mưu trí, tính thần triệt để chấp hành mệnh lệnh của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Hai trận đánh có tiếng vang lớn, cổ vũ phong trào cách mạng trong khu căn cứ, mở đầu truyền thõng đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng, đánh thắng ngay từ trận đầu của Quân đội nhân dân Việt Nam. _____________________________________________ 1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1983, tr.377-378. 2. Những ngày kỷ niệm lớn trong nước. Nxb Quân đội nhân dân. Hà Nội, 1972. tr.189 - 190. | |
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Năm, 2022, 11:00:52 pm gửi bởi chuongxedap » | Logged
|
|
|
|
chuongxedap Đại tá  Bài viết: 13633  | 
| Re: 50 năm QĐND Việt Nam« Trả lời #2 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2022, 08:06:08 pm » |
NĂM 1945
9-12 tháng 3.
Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hội nghị mở rộng tại làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh), ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Về nhiệm vụ quân sự, Chỉ thị nêu rõ:
“- Tổ chức thêm nhiều bộ đội du kích và tiểu đội du kích. - Thành lập những căn cứ địa mới. - Thống nhất các chiến khu, thành lập “Việt Nam giải phóng quân”. - Tổ chức “Ủy ban quân sự” (tức Ủy ban khởi nghĩa) để thống nhất chỉ huy du kích và các chiến khu.
12 tháng 3
Thành lập Đội du kích Ba Tơ, tại tỉnh Quảng Ngãi, gồm 28 chiến sĩ, 24 khẩu súng.
Đội trưởng: Phạm Kiệt. Chính trị ủy viên: Nguyễn Đôn.
Ở các địa phương khác (Sài Gòn, Mỹ Tho, Bến Tre, Sa Đéc...) nhiều đội tự vệ, đội vũ trang công tác... được thành lập.
15-20 tháng 4.
Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ do Ban Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập, tại huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang). Đồng chí Tổng bí thư Trường Chinh chủ trì. Hội nghị quyết định phát triển chiến tranh du kích, chuẩn bị phát động tổng khởi nghĩa, thống nhất Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc quân và các lực lượng vũ trang cách mạng thành Việt Nam giải phóng quân; mở Trường Quân chính kháng Nhật, ra sức thu nhặt và sửa chữa vũ khí, lập xưởng sửa chữa vũ khí, chế tạo súng ống, bom đạn, tích trữ lương thực, lập kho thóc giải phóng quân ở các xã; phát triển bộ đội giải phóng, tổ chức rộng rãi những đội tự vệ, tự vệ chiến đấu và bộ đội địa phương, dùng “chiến thuật đánh úp quân địch bằng những trận nhỏ, nắm chắc phần thắng để giữ gìn và bồi dưỡng lực lượng ta”, “nếu địch bao vây căn cứ địa thì phải dùng chiến thuật” dĩ công vi thủ “mà đối phó”, thành lập bảy chiến khu trong cả nước; thành lập Ủy ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ gồm các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Lê Thanh Nghị, Trần Đăng Ninh, Chu Văn Tấn để “chỉ huy các chiến khu miền Bắc Đông Dương về mặt chính trị và quân sự, đồng thời có nhiệm vụ giúp đỡ cho toàn quốc về mặt quân sự”.
15 tháng 5.
Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân gặp nhau ở bãi Thàn Mát (tên một loài cây) phía sau đình làng Quặng (xã Định Biên, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên). Cùng ngày, tại đình làng Quặng, đồng chí Võ Nguyên Giáp tuyên bố thống nhất các tổ chức vũ trang cách mạng trong cả nước thành Việt Nam giải phóng quân. Lực lượng ban đầu gồm 13 đại đội (thống nhất từ các đại đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, trung đội Cứu quân) và các đội vũ trang tập trung ở các tỉnh, huyện.
Tháng 5 - tháng 6.
Việt Nam giải phóng quân cùng nhân dân các dân tộc Việt Bắc đánh bại cuộc tiến công của 2.000 quân phát xít Nhật, bảo vệ căn cứ địa.
4 tháng 6.
Thành lập Khu Giải phóng: gồm sáu tỉnh Cao Bằng - Bắc Cạn - Lạng Sơn - Thái Nguyên - Hà Giang - Tuyên Quang và một phần các tỉnh Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Vĩnh Yên (hơn bốn vạn ki-lô-mét vuông, với hơn một triệu dân, lực lượng vũ trang lên tới gần ba trăm người). Vùng Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) là trung tâm của khu giải phóng.
8 tháng 6.
Thành lập chiến khu Đông Triều (Trần Hưng Đạo). Đội du kích chống Nhật của chiến khu ra đời do các đồng chí Nguyễn Bình, Hải Thanh, Trần Cung... chỉ huy. Từ Đông Triều, Chí Linh (Hải Dương) địa bàn chiến khu nhanh chóng phát triển ra Quảng Yên, Kiến An, Hải Ninh, Hải Phòng, vùng duyên hải đông bắc Bắc Bộ.
20 tháng 6.
Tại Quỳnh Lưu (Ninh Bình), thành lập trung đội giải phóng quân của chiến khu Hòa - Ninh - Thanh, gồm 40 người, trang bị 19 khẩu súng, một số mã tấu, biên chế thành ba tiểu đội.
Trung đội trưởng: Lương Nhân.
Tháng 6.
Trường Quân chính kháng Nhật khai giảng khóa 1 tại xóm Khuổi Kịch, xã Tân Trào, châu Tự Do (nay là huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang). Đồng chí Phạm Văn Đồng thay mặt Trung ương Đảng giao nhiệm vụ: đào tạo cấp tốc cán bộ trung đội trưởng và chính trị viên trung đội, đáp ứng nhu cầu cán bộ cho chiến đấu và xây dựng lực lượng vũ trang.
Phụ trách lớp: Hoàng Văn Thái và Nguyễn Thanh Phong.
Học viên là cán bộ, chiến sĩ Việt Nam giải phóng quân, một số cán bộ và hội viên cứu quốc nhiều tỉnh khác. Nội dung học tập: tình hình thế giới và trong nước, chương trình Mặt trận Việt Minh, Mười lời thề, Mười hai điều kỷ luật, công tác chính trị trong quân đội; kỹ thuật tháo lắp, sử dụng các loại súng trường, súng máy, cách đánh phục kích, tập kích, chiến đấu du kích, vũ trang tuyên truyền, công tác bí mật, địch vận...
Sau khóa 1, trường mở tiếp khóa 2 và 3. Cán bộ chính trị, quân sự ra trường trong ba khóa gồm 260 người được bổ sung cho các đơn vị vũ trang và các địa phương. |
|
|