Người có công giúp đỡ cách mạng

60 NGÀY ĐÊM KHÓI LỬA VÀ LỜI THỀ "QUYẾT TỬ

KÝ ỨC CỦA ĐẠI TÁ NGUYỄN TRỌNG HÀM

Quảng Ninh30/07/2026Phường Nông Tiến (Đoàn phường Nông Tiến)12 lượt xem0 lượt chia sẻ

TIẾNG VỌNG TỪ LÒNG HÀ NỘI
Hà Nội những ngày thu, nắng vàng như rót mật xuống những tán xà cừ cổ thụ trên đường Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng. Giữa sự bình yên, phồn hoa và náo nhiệt của phố phường hôm nay, ít ai hình dung được rằng, chính tại những góc phố, căn nhà, từng tấc đất này gần 80 năm về trước, đều đã thấm đẫm máu của những người con ưu tú
nhất đất Hà thành.
Chiến tranh đã lùi xa, lớp bụi thời gian có thể phủ mờ lên nhữngchiến hào năm cũ, những vết đạn trên tường Cửa Bắc có thể đã rêu phong, nhưng ký ức về một thời "hoa lửa" bi tráng vẫn cháy rực trong tâm trí của những người lính già. Họ là những chứng nhân lịch sử, là cầu nối giữa quá khứ hào hùng và hiện tại hòa bình.
Để tìm lại những mảnh ghép chân thực nhất của cuộc kháng chiến chống Pháp, tôi đã tìm đến và tìm hiểu về câu chuyện của Đại tá Nguyễn Trọng Hàm – Nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân khu
Thủ đô, Trưởng ban Liên lạc Truyền thống Quyết tử Trung đoàn Thủ đô. Ông được mệnh danh là "pho sử sống", là một trong những chứng nhân cuối cùng của mùa đông năm 1946 lịch sử.
NỘI DUNG CÂU CHUYỆN
1. Bối cảnh lịch sử: Trước giờ G
Ngược dòng thời gian trở về những ngày cuối năm 1946, không khí Hà Nội căng như dây đàn. Mặc dù chúng ta đã nhân nhượng ký Hiệp định Sơ bộ (6/3) và Tạm ước (14/9), nhưng thực dân Pháp với dã tâm cướp nước ta một lần nữa đã liên tiếp gây hấn.

Chúng gửi tối hậu thư đòi tước vũ khí của lực lượng tự vệ, đòi quyền kiểm soát an ninh trật tự ở Thủ đô. Đại tá Nguyễn Trọng Hàm nhớ lại: "Ngày ấy, Hà Nội vắng lặng đến rợn người. Người già, phụ nữ và trẻ em đã đi tản cư về các vùng quê. Ở lại thành phố chỉ còn những thanh niên trai tráng, các lực lượng tự vệ và những người dân quyết tâm bám trụ. Chúng tôi biết,hòa bình là điều không thể giữ được nữa, chiến tranh là điều tất
yếu."
Trong ký ức của người lính già, đêm 19/12/1946 là một đêm không ngủ. Đúng 20 giờ 03 phút, đèn điện toàn thành phố vụt tắt. Những nòng pháo từ Pháo đài Láng gầm vang, bắn những phát đạn đầu tiên vào cơ sở của Pháp trong nội thành. Đó là hiệu lệnh mở màn cho cuộc kháng chiến toàn quốc.
2. Chiến lũy hoa và máu: Những ngày đầu giao tranh
Khi Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh vang lên qua đài phát thanh: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", cả Hà Nội bừng tỉnh và sục sôi khí thế.Đại tá Hàm kể lại với giọng đầy xúc động về hình ảnh những "chiến lũy" độc nhất vô nhị trên thế giới. Dân Hà Nội không tiếc tài sản. Giường tủ, sập gụ, bàn ghế, phản gỗ, thậm chí cả những toa tàu điện nặng hàng tấn... tất cả đều được khiêng ra chặn ngã tư, ngã ba để cản bước xe tăng địch. Những chàng trai Hà Nội hào hoa, thư sinh, vốn chỉ quen cầm bút, nay khoác lên mình chiếc áo trấn thủ, chân đi dép cao su hoặc giày vải, đầu đội mũ ca-lô lệch, tay cầm súng trường cũ, mã tấu, trở thành những chiến sĩ Vệ quốc đoàn. Họ tuyên thệ: "Quyết tử để Tổquốc quyết sinh". Đó không phải là khẩu hiệu hô hào, đó là mệnhlệnh từ trái tim, là sự lựa chọn dấn thân vào chỗ chết để đất nướcđược sống.
3. "Trùng độc chiến" và những cảm tử quân
Sự chênh lệch lực lượng lúc bấy giờ là vô cùng lớn. Quân Pháp cóxe tăng, xe bọc thép,máy bay và vũ khí tối tân. Quân ta chỉ có vũkhí thô sơ, bom xăng tự chế và lòng dũng cảm vô song. Để chống lại kẻ thù mạnh hơn gấp bội, quân dân Hà Nội đã sáng tạo ra lối đánh "trùng độc chiến" – đánh trong lòng địch. Đại tá Hàm mô tả: "Chúng tôi đục tường thông từ nhà này sang nhà khác, tạo thành một hệ thống hào giao thông, mê cung ngầm ngay trong lòng dãy phố. Chiến sĩ ta thoắt ẩn thoắt hiện. Địch vừa thấy súng nổ ở Hàng Thiếc, chạy đến nơi thì ta đã luồn qua Hàng Nón, Hàng Gai. Lính Pháp có hỏa lực mạnh nhưng vào phố nhỏ thì bất lực, chúng hoang mang tột độ."Nhưng ám ảnh và bi tráng nhất trong câu chuyện của ông chính là hình ảnh các chiến sĩ "bom ba càng". Đó là vũ khí chống tăng cảm tử. Quả bom hình chóp nón, có ba chân sắt gắn kíp nổ,người lính phải lao thẳng vào xe tăng địch để kích nổ. Điều đó đồngnghĩa với việc người lính sẽ hy sinh cùng với xác xe tăng địch.
"Tôi đã chứng kiến đồng đội của mình, những chàng trai mười tám, đôi mươi, ôm bom lao vào xe tăng Pháp ở khu vực bờ hồ, ở các cửa ô. Một tiếng nổ rung trời, xe tăng địch cháy, nhưng đồng đội tôi cũng không còn nữa. Họ tan vào khói bụi, tan vào đất đai Hà Nội. Sự hy sinh ấy quá đỗi phi thường," Đại tá Hàm rưng rưng nhớ lại.
4. Trận chiến Chợ Đồng Xuân và các "Vệ út"
Một trong những trận đánh ác liệt nhất mà Đại tá Hàm và các đồng đội trải qua là trận phòng ngự tại chợ Đồng Xuân vào tháng 2/1947. Quân Pháp huy động tối đa hỏa lực, dùng cả máy bay ném bom và xe tăng húc đổ cổng chợ. Các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô đã bám trụ từng quầy hàng, từng góc cột, đánh giáp lá cà bằng dao, bằng chai xăng. Máu của các chiến sĩ đã nhuộm đỏ nền chợ Đồng Xuân để bảo vệ từng tấc đất Thủ đô.

Bên cạnh những người lính cầm súng, Đại tá Hàm còn nhắc nhiều đến các "Vệ út" – những em bé liên lạc viên tuổi chỉ 10-13. "Các em nhỏ lắm, như những chú sóc, luồn lách qua các ngõ ngách, chui qua lỗ tường để đưa thư, tiếp tế đạn dược và cơm nắm cho các anh lớn. Có em ngã xuống ngay trên đường đưa thư, tay vẫn nắm chặt phong bì. Các em chính là những Gavroche của Hà Nội," ông kể.
5. Cái Tết trong vòng vây và cuộc rút quân thần kỳ
Trong 60 ngày đêm ấy, cái đói, cái rét bủa vây. Lương thực cạn kiệt. Nhưng tinh thần lạc quan của người Hà Nội chưa bao giờ tắt. Giữa tiếng bom đạn, tiếng đàn, tiếng hát vẫn vang lên. Đặc biệt nhất là cái Tết Đinh Hợi năm 1947 – cái Tết trong vòng vây. Bác Hồ đã gửi thư và quà vào cho các chiến sĩ. "Nhận được cành đào Nhật Tân và chiếc bánh chưng Bác gửi, chúng tôi khóc. Chia nhau miếng bánh chưng mỏng dính mà thấy ấm lòng lạ kì. Chúng tôi ăn Tết với lời thề giữ vững Thủ đô thêm một ngày để Trung ương thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến," ông Hàm hồi tưởng.
Đến đêm 17/2/1947, sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giam chân địch 2 tháng (vượt chỉ tiêu 1 tháng), Trung đoàn Thủ đô nhận lệnh rút quân để bảo toàn lực lượng. Đây là cuộc "Rút quân thần kỳ". Hàng nghìn người lặng lẽ vượt sông Hồng ngay dưới gầm cầu Long Biên, dưới ánh đèn pha và mũi súng của địch mà chúng không hay biết.
Khi sang đến bãi giữa sông Hồng, nhìn lại Hà Nội đang chìm trong lửa đỏ, những người lính trẻ ngoái lại, giơ nắm tay thề: "Hà Nội ơi, chúng tôi sẽ trở về!". Lời thề ấy đã phải đánh đổi bằng 9 năm kháng chiến trường kỳ, từ Việt Bắc gió ngàn đến chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Ngày 10/10/1954, Đại tá Nguyễn Trọng Hàm cùng đoàn quân chiến thắng đã thực hiện được lời hứa năm xưa, tiến về tiếp quản Thủ đô trong rừng cờ hoa đón chào.
CẢM NGHĨ CỦA BẢN THÂN
Câu chuyện của Đại tá Nguyễn Trọng Hàm và Trung đoàn Thủ đô như một thước phim quay chậm, đưa tôi trở về những ngày tháng đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc. Tôi nhận ra rằng, lòng yêu nước không phải là một khái niệm trừu tượng, nó hiện hình qua hành động của anh chiến sĩ ôm bom ba càng, qua bước chân thoăn thoắt của em bé Vệ út, và qua quyết định chặt cánh tay của anh hùng La Văn Cầu hay ánh mắt cương nghị của Đại tá Hàm.
Thế hệ trẻ chúng tôi sinh ra khi đất nước đã im tiếng súng. Chúng tôi chỉ biết đến chiến tranh qua sách vở, phim ảnh. Nhưng qua lời kể của nhân chứng sống, lịch sử trở nên "có hồn" và thấm thía hơn bao giờ hết. Sự hy sinh của thế hệ cha ông là vô giá. Cái giá của độc lập, tự do ngày hôm nay được viết bằng máu và thanh xuân của cả một thế hệ.
Hình ảnh Đại tá Nguyễn Trọng Hàm – người lính già với mái tóc bạc phơ, nhưng đôi mắt vẫn rực lửa khi nhắc về đồng đội – sẽ mãi là tấm gương sáng soi rọi cho thế hệ trẻ.
Tôi tự hứa với lòng mình, sẽ sống và học tập sao cho xứng đáng với dòng máu Lạc Hồng, xứng đáng với lời thề "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" năm nào. Chúng tôi sẽ viết tiếp trang sử vàng của dân tộc, không phải bằng súng đạn, mà bằng trí tuệ, bản lĩnh để xây dựng Việt Nam hùng cường.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn