Bài viết

600 ngày và 200 trận đánh của S20

Đúng ngày kỷ niệm thành lập quân đội 22-12-1952, tại làng Cẩm Đới, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, Tỉnh đội Hải Dương đã tổ chức thành lập Đội Giao thông chiến-đơn vị chiến đấu chuyên biệt...

Hải Phòng06/04/2026Đoàn xã An Hưng (Đoàn xã An Hưng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đúng ngày kỷ niệm thành lập quân đội 22-12-1952, tại làng Cẩm Đới, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, Tỉnh đội Hải Dương đã tổ chức thành lập Đội Giao thông chiến-đơn vị chiến đấu chuyên biệt vừa đánh địch, vừa huấn luyện cho dân quân, du kích đánh mìn trên các tuyến giao thông trong tỉnh. Đội trực thuộc Ban Tham mưu Tỉnh đội nhưng trong huấn luyện, tác chiến lại hoàn toàn độc lập. Hơn 30 đội viên được tuyển lựa là những cán bộ, chiến sĩ có nhiều kinh nghiệm đánh mìn thuộc bộ đội Kim Thành, Bình Giang, Cẩm Giàng, Gia Lộc. Ban chỉ huy có ba người: Nguyễn Văn Tân (Tuy)-Đội trưởng; Trần Hồng Nguyên-Chính trị viên; Nguyễn Huy Trường-Đội phó. Đến cuối tháng 5-1953, ông Nguyễn Huy Trường được đề bạt thay ông Tân làm Đội trưởng.

Xe tăng của Pháp bị du kích Hải Dương dùng mìn đánh đổ. Ảnh tư liệu.

Giữa tháng 2-1953, đội tổ chức đánh trận đầu tiên trên đường 20 (đoạn Kẻ Sặt-Phủ Vạc) mở đầu trang sử của đơn vị. Vũ khí chủ yếu là mìn (vỏ bằng kim loại). Để đối phó với máy dò mìn của địch, anh em đánh theo chiến thuật “hố không mìn”. Hố chôn mìn được đào từ chiều hôm trước. Ta đặt vào đó một quả mìn giả không có chất kim loại (kích thước tương đương với mìn thật), rồi ngụy trang lại. Sáng hôm sau, khi tốp dò mìn của địch đi qua, không phát hiện được. Một chiến sĩ ta hóa trang thành phụ nữ đi chợ, mang theo thúng cám (trong có giấu quả mìn thật). Khi đến chỗ có hố mìn, “chị” giả vờ làm đổ thúng cám rồi vừa hót, vừa khéo léo dùng dao găm nhanh chóng nạy đất, lấy quả mìn giả ra, đặt mìn thật vào, ngụy trang lại như cũ, rồi rút về nơi quy định. Vào khoảng 9 giờ sáng, chiếc xe Jeep chở hai tên sĩ quan từ Kẻ Sặt chạy đến. Quả mìn do đồng chí Đoàn Xuân Ninh (người đóng vai phụ nữ đi chợ) đặt nổ tức thì, làm tan xác chiếc xe, diệt gọn ba tên giặc.

Để ghi nhớ trận đầu đánh thắng, Đội Giao thông chiến tự đặt biệt danh cho mình là S20 (S là con đường, 20 là tên con đường). Sau trận đầu thắng lợi, S20 chia làm ba bộ phận, chuyển về bám dân, đánh địch ở đường 9 (Tứ Kỳ); đường 17 (Gia Lộc) và đường 20 (Bình Giang). Chẳng bao lâu sau, vai trò nòng cốt của S20 nổi bật trên mặt trận đánh phá giao thông địch với nhiều trận đánh vang dội.

Tại đoạn đường số 9, từ thị xã Ninh Giang đi An Thổ (Tứ Kỳ), lần đầu tiên trên chiến trường Hải Dương, địch mở cuộc càn quét quy mô lớn, có cơ giới yểm trợ. Đại đội 75 bộ binh của Tỉnh đội phối hợp với S20 tổ chức phục kích với trận địa kéo dài gần 1km. Chỉ huy chung trận đánh là đồng chí Đỗ Trọng Khoát-Đại đội trưởng Đại đội 75. Đội trưởng S20 Nguyễn Huy Trường chịu trách nhiệm toàn bộ trận địa mìn. Các chiến sĩ S20 đã đặt thành công 8 quả mìn liên hoàn vào lòng đường, cách nhau 30m/quả trước mọi thủ đoạn kiểm tra, tìm mìn gắt gao của địch. Mở đầu trận đánh, nhiệm vụ của S20 là phải bằng mọi cách đánh trúng chiếc xe tăng đi đầu và dùng mìn đánh chặn quân tiếp viện từ thị xã Ninh Giang.

Đúng 7 giờ sáng 21-5-1953, quân địch xuất hiện.

Chiếc xe tăng đi đầu vừa đi vừa dò dẫm. Đội trưởng Trường theo dõi như “dán mắt” vào từng vòng xích lăn của nó. Khi “con mồi” liều lĩnh dấn thân vào điểm chết, lập tức, Trường hạ lệnh:

- Đánh!

Một tiếng nổ vang trời. Khói lửa chùm kín chiếc xe tăng. Quả mìn có sức công phá 17kg thuốc nổ hất lộn nó lên phía trước. Tại cụm mìn thứ hai, đồng chí Đặng Văn Đính-Tiểu đội trưởng, cũng kịp thời phát lệnh. Ba quả mìn nổ giòn giã, lật ngửa một chiếc xe bọc thép và hất sang bên đường. Cùng lúc, các cỡ súng của Đại đội 75 nã đạn xối xả vào đội hình địch.

Lúc này, tại cụm mìn chặn viện, hai đồng chí Kỳ và Đoàn đã hoàn tất việc đặt hai quả mìn thật vào “hố không mìn” để đánh viện binh của chúng. Chiếc xe tăng đi đầu chưa kịp bắn phát đạn ứng cứu nào đã bị một quả mìn của ta làm nó “giơ vó”, nằm vật sang bên đường. Cả đoàn xe tiếp viện của địch vội vàng dừng lại. Do tình hình khẩn cấp, chiếc xe thứ hai nổ máy, liều chết xông lên, liền bị ngay quả mìn thứ hai của ta “xé” tan xác cùng bọn lính ngồi trên xe.

Do hiệu quả sát thương cao của hai quả mìn chặn viện, Đại đội 75 có điều kiện tập trung tiêu diệt địch ở trận địa chính. Quân giặc hoang mang. Tên chỉ huy xua lính đi lùa bắt của dân hơn 20 con trâu, cho chạy trên mặt đường. Không thấy con trâu nào “vấp” phải mìn, chúng chắc mẩm trên đường không còn quả mìn nào nữa. Lúc này, từ bên kia bến đò An Thổ, một đoàn xe địch từ phía Kiến An lên, đã qua phà. Chiếc xe tăng đi đầu chạy qua, không trúng “cạm điện” của quả mìn thứ nhất nhưng đến quả mìn thứ hai ở “cụm mìn” phát hỏa, đã làm nó tan xác tại chỗ. Chiếc xe cần trục ở phía sau được gọi lên giải quyết hậu quả. Tức thì, một tiếng nổ đanh mạnh, rung chuyển cả mặt đất. Chiếc xe cần cẩu gục đầu xuống ruộng. Trận phối hợp tác chiến giữa hai lực lượng của ta đã phá tan cuộc hành quân tuần tiễu lớn của địch.

Đang đánh địch ở đường 20, S20 nhận được lệnh của Tỉnh đội trưởng Tăng Bá Dụ “về đánh cầu Bía trên đường 17”. Đây là con đường hành lang quan trọng nối liền thị xã Hải Dương với Chi khu quân sự Ninh Giang.

Cầu Bía bắc qua sông Quảng Bí (còn gọi là sông Gồm) dài hơn 100m, có 4 nhịp. Mặt cầu lát bằng sắt đặt trên những dầm sắt cỡ lớn. Trụ cầu làm bằng những cây gỗ lim to, có chốt đóng liên kết, tạo thành khối vững chắc. Mố cầu ở hai bên bờ sông đặt trên hai lô cốt (xây kiểu boong-ke), có lỗ châu mai quan sát và có thể bắn thẳng dưới gầm cầu. Để bảo vệ cầu, địch bố trí ở hai đầu cầu, mỗi bên một lô cốt lớn. Mỗi lô cốt có một trung đội lính da đen và lính ngụy canh giữ. Trụ cầu đều được bao bọc bằng lưới thép loại cứng. Mặt sông ở hai phía cầu, chúng giăng ba hàng rào dây thép gai (có gắn phao nổi trên mặt nước) nối liền với hàng rào của hai vị trí trên bờ…

Theo lệnh của Tỉnh đội trưởng, đơn vị xuất kích vào hồi 18 giờ ngày 14-6-1953; lặng lẽ vượt qua những cánh đồng ngập nước. Đúng 23 giờ, đơn vị cũng vừa đến vị trí tập kết ở ven sông. Khác với những lần trinh sát trước, đêm nay, mỗi người phải mang theo 20kg thuốc nổ, phao, dây điện… nên khi chui qua hàng rào phải hết sức cẩn thận để giữ cho kíp nổ không bị hư, dây điện không bị xây xát. Lần lượt, anh em vượt qua đoạn sông tiến vào trụ cầu; rồi nhẹ nhàng lặn xuống lòng sông, vén tấm lưới sắt, chui vào; thận trọng leo lên đặt thuốc nổ vào vị trí đã xác định và nối ngòi điện…

Kim đồng hồ chỉ 2 giờ 15 phút, nhân dân các vùng phụ cận thuộc các huyện Ninh Giang, Tứ Kỳ, Gia Lộc đều giật mình thức giấc vì một tiếng nổ vang trời. Ánh chớp khổng lồ “xé toạc” màn đêm, soi sáng cả một đoạn sông. Chiếc cầu bị cắt đứt tại nhịp giữa. Các nhịp hai bên đều gục đầu xuống nước.

Sau đó, đội quay trở lại đường 20, liên tiếp đánh nhiều trận trên quãng đường cây đa Quán Cháy, ấp Me Kiều, đồng Cô Quế (đầu làng Bình An,)… phá hủy hàng chục xe vận tải của địch. Địch khiếp sợ, không dám cho xe chở hàng đi tiếp tế cho Phủ Vạc, Thọ Trường nữa. Có lúc sợ vấp phải mìn, chúng không dùng xe tải mà dùng máy bay trực thăng hoặc bắt tù nhân đi bộ khiêng, vác thay xe vận tải. Từ Cẩm Giàng, chúng chi viện cho bọn này 4 xe GMC do 4 tên lính da đen cầm lái. Ra khỏi căn cứ Kẻ Sặt, bắt đầu vào đoạn đường nguy hiểm, 4 tên lính này không dám cho xe chạy tiếp mà dừng lại ở Cống Sộp, ngồi khóc rồi cho xe quay lại. Vì thế, trong bài hát truyền thống của S20 mới có câu: “… đường 20, giặc phát khóc. Hết xe rồi, tắc đường giao thông…”.

Để đánh thắng địch bằng các loại mìn, cán bộ và chiến sĩ S20 đã tìm ra nhiều cách đánh đầy sáng tạo. Chẳng hạn như “mìn tự động” chỉ nổ vào mục tiêu là xe địch. “Mìn sờ” là mìn nổ ngay để tiêu diệt những tên lính dò mìn. Nguyễn Huy Trường-Đội trưởng, đã trực tiếp đánh 7 quả trên quãng đường An Thổ (Tứ Kỳ); Đa Nghi (Ninh Giang); Phương Điếm (Gia Lộc); Đồng Niên (Cẩm Giàng) diệt 32 tên địch. “Mìn sờ” ra đời khiến những tên lính bị phái đi dò mìn vô cùng khiếp đảm. Ở đường 17, có lần, địch đã đập nát máy dò mìn vì trước đó dò đi, dò lại, xe yểm trợ chạy sau vẫn bị tan tành vì mìn.

Thực hiện khẩu hiệu “Không ngừng tiếng súng, tiếng mìn trên Đường 5 để phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ”, đêm 13-3-1954, bộ đội ta đã tiến công, san bằng hàng chục đồn bốt trên Đường 5 (đoạn thuộc địa phận Kim Thành dài 17km) và Cẩm Giàng. Cũng trong đêm ấy, S20 đã dùng mìn đánh chặn quân tiếp viện của địch ở Cống Chông (phía Bắc thị xã Hải Dương). Sau đó, được lệnh của Tỉnh đội, đơn vị cơ động lên phía Bắc để đánh địch trên đường xe lửa.

Lúc này, trình độ kỹ thuật và chiến thuật của ta đã nâng cao hơn trước nhiều; không còn dùng “mìn giật dây”, “mìn có người điều khiển” cũng rất hạn chế mà chủ yếu đánh bằng “mìn điện tự động”. Với nhiều chiến thuật khác nhau do cán bộ và chiến sĩ trong đơn vị sáng tạo, 155 ngày đêm chiến đấu trên đất Cẩm Giàng, S20 đã lật đổ 17 đoàn tàu chuyên chở vũ khí, binh lính địch chi viện cho đồng bọn đang bị ta bao vây ở Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Trên những đoạn đường Hàn Thượng, Đồng Niên, Cao Xá, An Tịnh, Đức Trạch, Chùa Dê, Mai Trung, Kim Nguyên, Ngạt Kéo... là những nơi mãi mãi ghi đậm chiến công oai hùng của cán bộ, chiến sĩ S20.

Nhìn lại chặng đường gần 600 ngày vừa xây dựng, vừa chiến đấu, ngoài công việc hướng dẫn dân quân, du kích hai huyện Bình Giang, Gia Lộc; huấn luyện cho bộ đội huyện Cẩm Giàng (Hải Dương), bộ đội huyện Văn Lâm (Hưng Yên) cách đánh mìn và đã đánh thắng nhiều trận, cán bộ và chiến sĩ S20 đã trực tiếp đánh gần 200 trận lớn, nhỏ bằng mìn trên các tuyến đường giao thông huyết mạch của địch; diệt và phá hủy 145 xe (có 20 xe tăng và xe bọc thép); lật đổ 17 đầu tàu và 85 toa xe lửa; giết và làm bị thương hàng trăm tên địch. Trên lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” của đơn vị lấp lánh hai tấm Huân chương Quân công hạng ba và Huân chương Chiến công hạng nhất.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn