800 TÙ BINH TRẠI GIAM TÙ BINH PHÚ QUỐC Ở HỐ NAI ĐẤU TRANH ĐÒI GẶP PHÁI ĐOÀN QUÂN SỰ BỐN BÊN, ĐÒI THI HÀNH HIỆP ĐỊNH PARIS TRAO TRẢ TÙ BINH
800 TÙ BINH TRẠI GIAM TÙ BINH PHÚ QUỐC Ở HỐ NAI ĐẤU TRANH ĐÒI GẶP PHÁI ĐOÀN QUÂN SỰ BỐN BÊN, ĐÒI THI HÀNH HIỆP ĐỊNH PARIS TRAO TRẢ TÙ BINH
Mặc dù bọn địch ra sức bưng bít và kiểm tra lục soát trong phòng ở của tù binh nhưng anh em vẫn liên hệ xin được báo chí và nắm được tin tức hàng ngày, biết được tình hình diễn biến trên bàn đàm phán Paris, tình hình chiến sự trên chiến trường, ngày 25-1-1973, đã biết được Hội nghị Paris được ký tắt và đến ngày 27-1-1973 sẽ ký chính thức.
Ngày 26-1-1973, Đảng ủy họp để nhận định và chuẩn bị cho cuộc đấu tranh đòi địch công bố Hiệp định Paris về Việt Nam và đòi gặp phái đoàn quân sự bốn bên, quyết định sáng 28-1-1973 sẽ mở đầu cuộc đấu tranh. Nhờ có kinh nghiệm từ các cuộc đấu tranh trước đây nên Đảng ủy đã đề ra nội dung sát hợp tình hình, chủ yếu tập trung vào nội dung “Yêu cầu chỉ huy trưởng trại giam công bố cho tù binh biết về Hiệp định Paris đã được ký kết, cho đại diện tù binh gặp phái đoàn quân sự bốn bên”; đồng thời đề ra biện pháp và phân công từng người vào từng công việc một cách cụ thể. Vì vậy, cuộc đấu tranh thu được kết quả cao.
Theo đúng kế hoạch, cuộc đấu tranh diễn ra vào sáng 28-1-1973, tại khu A, anh Hường đại diện tù binh được anh em cử ra gặp Trung tá Mã Sinh Quy, Chỉ huy trưởng trại giam, đưa kiến nghị của tù binh. Nhận kiến nghị yêu sách của tù binh, tên Quy cử người ra trả lời với giọng điệu đe dọa: không có Hiệp định Paris, tù binh không được làm loạn, không được gây rối mất trật tự trong trại giam, kẻ nào không tuân hành mệnh lệnh sẽ bị trừng phạt.
Anh em lại tiếp tục cử đồng chí Phú và hai người nữa cầm tờ báo Sài Gòn ra nói với chúng rằng: báo chí Sài Gòn đã đăng tải về Hiệp định Paris đã được ký kết và phản đối thái độ bưng bít của chúng. Yêu cầu công bố cho tù binh biết về Hiệp định Paris đã được ký kết và cho đại diện tù binh được trực tiếp gặp phái đoàn quân sự bốn bên.
Cuộc đấu tranh diễn ra gay gắt, địch dùng mọi thủ đoạn đe dọa, đàn áp, cắt nguồn cung cấp lương thực thực phẩm, bỏ đói tù binh. Đến ngày thứ 5, tên chỉ huy trưởng tới xoa dịu, mời đại diện tù binh ra trả lời, bảo các anh nhận lương thực thực phẩm vào nấu ăn và chờ hắn xin ý kiến chính quyền Trung ương, khi nào Hiệp định Paris được ký kết sẽ thông báo cho anh em biết,
Anh em không tin, cuộc đấu tranh tiếp tục kéo dài đến ngày thứ bảy, bọn địch phải chấp thuận. Vào lúc 10 giờ, địch cử đại diện của chúng vào phòng giám thị khu A mời đại diện tù binh ra gặp và chúng thông báo: Hiệp định Paris đã được ký vào ngày 27-1-1973, đồng ý cho đại diện tù binh được gặp phái đoàn quân sự bốn bên (các anh chờ khi nào được lệnh trên chúng tôi sẽ thông báo sau).
Cuộc đấu tranh kết thúc thắng lợi và 3 hôm sau, sáng ngày 7-2-1973, địch cho mời đại diện của ta ra thông báo: Hôm nay có phái đoàn quân sự bốn bên đến, đề nghị các anh cử 3 người đại diện ra gặp.
Đảng ủy mời các bí thư chi bộ họp, đánh giá thắng lợi của cuộc đấu tranh, chuẩn bị kế hoạch đề phòng thủ đoạn địch trả đũa; đồng thời cử 3 đồng chí đại diện cho anh em tù binh khu A đi gặp phái đoàn quân sự bốn bên và thống nhất các yêu sách khi gặp đoàn.
Đoàn do đồng chí Lương Duy Hiến (Phan Tấn Cử) - Phó Bí thư Đảng ủy dẫn đầu, đồng chí Nguyễn Phú và đồng chíHường - đại diện khu A là thành viên.
Khoảng 8 giờ ngày 7-2-1973 ba đại diện tù binh khu A được báo ra gặp phái đoàn quân sự bốn bên.
Đồng chí Lương Duy Hiến (Phan Tấn Cử) là người chịu trách nhiệm trực tiếp phát ngôn của đoàn.
Phái đoàn gồm có:
- 1 trung tá đại diện Quân đội Mỹ.
- 1 trung tá đại diện Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
- 1 trung tá đại diện Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.
- 1 thiếu tá đại diện Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Tên Trung tá Mã Sinh Quy, chỉ huy trưởng Trại giam Hố Nai cho ba đại diện của ba khu ra gặp phái đoàn.
Khi gặp nhau, Trung tá Nguyễn Bốn, đại diện Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đứng lên tự giới thiệu, hỏi thăm sức khỏe của anh em, thông báo Hiệp định Paris đã được ký kết ngày 27-1-1973 và anh em sắp được trao trả.
Anh em hỏi bằng chứng về đại diện Quân Giải phóng miền Nam, Trung tá Nguyễn Bốn đưa ra quyết định đánh máy do Thượng tướng Trần Văn Trà ký. Lúc đó anh em mới tin và hỏi xin bản nội dung Hiệp định Paris. Trung tá Nguyễn Bốn đưa cho anh em một bản làm cho đại diện quân đội Sài Gòn lúng túng, muốn ngăn cản nhưng không được vì Nghị định thư có quy định việc phổ biến toàn văn Nghị định thư cho tù binh biết.
12 giờ cùng ngày, trước khi anh em ra, ở trại anh em tù bình cả trại còn ngồi chật sân đón các anh. Anh Hiến giơ cao quyển Hiệp định Paris về Việt Nam, anh em vui mừng tung khăn mũ hoan hô thắng lợi. Ăn cơm trưa xong, các anh tranh thủ họp Đảng ủy mở rộng đến Bí thư Chi bộ.
Nội dung cuộc họp:
Chuyển lời thăm hỏi sức khỏe anh em tù binh của hai Trưởng đoàn đại biểu quân sự ta.
- Báo cáo toàn bộ diễn biến cuộc họp và những yêu sách của ta nêu ra, đánh giá thắng lợi có ý nghĩa trong cuộc đấu tranh của anh em khu A, khu C trại tù binh Hố Nai (Biên Hòa – Đồng Nai).
- Đồng thời cũng lưu ý cho các Chi bộ giáo dục anh em cảnh giác đề phòng âm mưu địch lật lọng không chấp nhận các yêu sách của ta và có thể có những thủ đoạn xấu với các đồng chí trong đoàn đại biểu tù binh.
Chỉ còn một tuần nữa là trao trả tù binh, vì vậy phải chỉ đạo khẩn trương xúc tiến nhiều công việc như:
- Cử đại diện của ta ra báo cho giám thị rằng anh em đồng ý nhận quần áo, chăn màn để chuẩn bị trao trả nhằm để có vải làm cờ, khẩu hiệu chứ không phải để sử dụng theo yêu cầu của chúng.
- Từng phòng phân công người làm cờ, khẩu hiệu và mỗi phòng có ít nhất bốn lá cờ đỏ sao vàng (kích thước 0,8 x 1,2 mét) và bốn khẩu hiệu (kích thước 0,8 x 3 mét) với nội dung:
+ Nhiệt liệt chào mừng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
+ Nhiệt liệt chào mừng Hiệp định Paris về Việt Nam được kí kết, tù binh được trao trả.
+ Nước Việt Nam hòa bình, độc lập, trung lập thống nhất, dân chủ và giàu mạnh muôn năm.
+ Hồ Chủ tịch muôn năm.
- Tổ chức học tập nội dung Hiệp định Paris, nhất là các điều khoản trao trả tù binh.
Có kế hoạch bảo vệ, không để lộ, không để địch tịch thu cờ, khẩu hiệu làm ra, coi đó là nhằm bảo vệ nhân phẩm cao nhất lúc này.
- Viết thư thông tin cho đồng chí Bảy Vạc, Bí thư Đảng ủy trại C phối hợp hành động.
Không khí phấn khởi của anh em tù binh và tính khẩn trương chỉ đạo hoạt động không mệt mỏi để kịp thời trao trả khiến chiến ai cũng muốn có việc làm để tham gia, thật sự là một chiến dịch ra quân cho ngày toàn thắng.
Tổ đào hầm cũng khẩn trương muốn ra trước để báo cáo với Trung ương, nhưng sau khi tính toán kỹ không thể vượt ngục trước thời gian trao trả và nếu lộ hầm sẽ gây khó khăn cho việc chuẩn bị trao trả nên quyết định hoãn đào hầm.
Để bảo vệ an toàn tuyệt đối cho phong trào hành động lúc này, hàng ngày hàng giờ phải theo dõi diễn biến của địch (giám thị, chỉ huy trại giam). Để chỉ đạo đối phó, các phòng do đồng chí bí thư chi bộ trực tiếp chỉ đạo không để một ai có hành động tự phát. Do được chuẩn bị trước và hoạt động khẩn trương dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Đảng ủy khu giam, nên chỉ trong một tuần, đến ngày 14-2-1973 kiểm tra lại mỗi phòng đã may xong bốn lá cờ, bốn khẩu hiệu và bốn túi đựng cờ khẩu hiệu, có phòng nhiều hơn.
Địch cho tù binh biết trước danh sách sẽ trao trả, nhưng danh sách này không gọn theo phòng mà phòng nào cũng có, vì vậy mỗi đợt trao trả từng phòng được mang theo một lá cờ và một khẩu hiệu, phòng đi nhiều thì mang theo hai lá cờ.
Đảng ủy phân công các đồng chí Đảng ủy viên, Bí thư chỉ bộ, chi ủy viên được trao trả chuyến nào chịu trách nhiệm chỉ đạo chuyến đó, nhất là bảo vệ cờ và khẩu hiệu; nhắc nhở anh em không chủ quan; không hành động tự phát để xảy ra bất lợi cho các chuyến sau; các đồng chí đảng ủy, bí thư chỉ bộ, chi ủy còn lại có trách nhiệm lãnh đạo tốt cho đến chuyến cuối cùng.
Danh sách trao trả đợt 2 (ngày 16-2-1973), trong Đảng ủy có anh Hiến, anh Sang và anh Ba Thương (tức Thượng tá Trần Văn Trân) ở khu C. Khi tù binh ra đến sân bay Biên Hòa thì bị địch đình lại vì chuyến đi ngày 15-2-1973 trên đường anh em để lộ có cờ, khẩu hiệu, nên chúng trả về trại và chúng bảo ai ở trại nào về trại đó, hôm sau sẽ gọi đi trao trả.
Anh em lo sợ đồng chí Ba Thương chúng đưa về khu C sẽ lộ nên bàn với nhau bảo anh vào khu A và có kế hoạch bảo vệ anh.
Sáng ngày 18-2-1973, chúng gọi anh Ba Thương và các anh đi trao trả. Do chuyến trước tù binh để lộ cờ và khẩu hiệu, cho nên lần này, bọn chỉ huy trại cho quân cảnh lục soát rất kỹ. Nhờ anh em đã có kế hoạch cất giấu chu đáo nên cờ và khẩu hiệu được bảo vệ an toàn. Cuộc trao trả tù binh Trại giam Hố Nai, Biên Hòa được tiến hành thuận lợi, anh em được trao trả hết và an toàn; cờ, khẩu hiệu chuẩn bị được mang đi trót lọt.
Cuộc đấu tranh của anh em tù binh Trại giam tù binh Phú Quốc ở Hố Nai, Biên Hòa trong những ngày địch chuẩn bị trao trả tù binh theo Hiệp định Paris là cuộc đấu tranh điển hình của tù binh Phú Quốc. Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng dù ở đâu, tù bình Phú Quốc cũng thể hiện bản lĩnh và phẩm chất chính trị, những phẩm chất đó được quân đội cách mạng đào tạo và được trải nghiệm qua đấu tranh, đặc biệt là cuộc đấu tranh trên mặt trận lao tù khốc liệt.
Điểm qua về các cuộc trao trả.
Điều 3 của Nghị định thư về trao trả nhân viên quân sự và nhân viên dân sự có ghi: “Các bên sẽ trao đổi danh sách đầy đủ những nhân viên quân sự và thường dân nước ngoài bị bắt nói trên vào ngày ký kết hiệp định này”.
Chiều ngày 27-1-1973, chính quyền Sài Gòn trao cho ta một danh sách gồm 26.734 nhân viên quân sự. Mấy ngày sau chúng đưa một danh sách bổ sung gồm 16 người. Ta tiếp tục đấu tranh. Mãi một năm sau địch mới trao thêm danh sách bổ sung gồm 130 người, tổng cộng tất cả trước sau là 26.880 nhân viên quân sự.
Các cuộc trao trả chia làm bốn đợt, từ 12-2-1973, dự trù hoàn tất vào ngày 25-3-1973.
Đợt 1: Khởi sự ngày 12-2-1973 đến 21-2-1973.
- Chính quyền Sài Gòn trao trả cho ta 7.000 nhân viên quân sự.
-Ta trao trả cho chính quyền Sài Gòn 1.032 nhân viên quân sự.
-Ta trao trả cho Hoa Kỳ 163 quân nhân Hoa Kỳ và các nước đồng minh của Hoa Kỳ.
Đợt 2: Khởi sự ngày 8-3-1973 đến 13-3-1973.
- Chính quyền Sài Gòn trao trả cho ta 5.595 nhân viên quân sự.
-Ta trao trả cho chính quyền Sài Gòn 1.004 nhân viên quân sự.
-Ta trao trả cho Hoa Kỳ 142 quân nhân Hoa Kỳ và các nước đồng minh của Hoa Kỳ.
Đợt 3: Khởi sự ngày 14-3-1973 đến 19-3-1973.
- Chính quyền Sài Gòn trao trả cho ta 7.294 nhân viên quân sự.
-Ta trao trả cho chính quyền Sài Gòn 1.214 nhân viên quân sự.
-Ta trao trả cho Hoa Kỳ 140 quân nhân Hoa Kỳ và các nước đồng minh của Hoa Kỳ.
Đợt 4: Khởi sự ngày 23-3-1973 dự trù đến 29-3-1973 nhưng có những trở ngại nên kéo dài sang đến đầu tháng 4-1973.
- Chính quyền Sài Gòn trao trả cho ta 6.619 nhân viên quân sự.
-Ta trao trả cho chính quyền Sài Gòn 2.178 nhân viên quân sự.
-Ta trao trả cho Hoa Kỳ 149 quân nhân Hoa Kỳ và các nước đồng minh của Hoa Kỳ.
Đó là bốn đợt lớn, ngoài ra còn có những lần trao đổi lẻ tẻ. Các đợt trao trả thường không diễn ra đúng kế hoạch vì có nhiều trở ngại. Ví dụ trong đợt 2, dự trù từ 8-3-1973 đến 13-3-1973, hai bên trao trả như sau:
· Chính quyền Sài Gòn sẽ trao trả cho ta tại các nơi:
Quảng Trị (Thạch Hãn): 2.300 người
- Đức Phổ (Quảng Ngãi): 500 người
- Bồng Sơn (Mỹ Đức – Bình Định): 1.000 người
- Mình Hòa (Bình Long): 600 người
- Lộc Ninh: 1.900 người
Tất cả là 6.300 người, nhưng thực tế chúng chỉ trao trả cho ta có 5.595 người.
· Cũng trong đợt 2, dự kiến ta trao trả cho chính quyền Sài Gòn tại các nơi:
- Tam Kỳ:b50 người
- Đức Phổ: 200 người
- Bồng Sơn: 400 người
- Minh Hòa: 600 người
Tất cả là 1.200 người, nhưng ta cũng chỉ trao trả được 1.004 người.
Trong việc trao trả, địch cố tình gây nhiều khó khăn cho ta, còn những người quê miền Nam chúng đưa trao trả tại Quảng Trị, những người quê miền Bắc chúng cho trao trả tại nhiều địa điểm ở miền Nam, làm cho anh em gặp trở ngại trong việc trở về với đơn vị và về sum họp với gia đình.
Một số tù binh, như những người bị chúng đưa ra xét xử tại tòa án quân sự, chúng không chịu trao trả anh em với lý do anh em chưa mãn hạn tù. Việc đó hoàn toàn vì phạm Điều 6 Nghị định thư. Anh em đấu tranh. Chúng chuyển từ bình đi rất nhiều nơi, từ Côn Đảo về Chí Hòa rồi Hố Nai, Bình Thủy (Cần Thơ) để ta khó tìm kiếm và mãi một năm sau chúng mới trao trả trong đợt chót 130 nhân viên quân sự của ta vào ngày 7-3-1974.
Mặc dù địch tráo trở, gây khó khăn, nhưng cuối cùng chúng cũng phải trao trả số nhân viên quân sự cho ta. Riêng tù chính trị, chúng bắt ép anh chi em ký tên đổi cung, từ tù chính trị thành những kẻ trộm cắp, lưu manh để không phải trao trả. Anh chị em đấu tranh quyết liệt chống lại âm mưu nham hiểm của địch. Cuối cùng chúng chỉ trao trả một số tù chính trị.
Do đó, việc trao trả hơn một năm sau vẫn còn phải tiếp tục đấu tranh để giải quyết. Từ ngày 8-2-1974 đến 7-3-1974, chúng tiếp tục trao trả cho ta 3.506 nhân viên dân sự và nhân viên quân sự, coi như là đợt vét số còn lại.
Theo Công hàm ngày 12-3-1974 của Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa gửi các thành viên ký kết Định ước Hội nghị quốc tế về Việt Nam, kể từ khi ký kết Hiệp định Paris đến lúc đó, chúng đã trao trả cho ta tất cả là 26.880 quân nhân và 5.081 thường dân (tức là tù chính trị). Đó là chưa tính số 10.973 tù binh ở các khu Tân sinh hoạt được Nguyễn Văn Thiệu chấp thuận chuyển qua Bộ Chiêu hồi ngày 27-1-1973 và được phóng thích.
Khi trao trả người cho địch, nhất là những tù binh Mỹ và những lính ngụy được trao trả ở Quảng Trị, ta đều trang bị cho mỗi người một bộ quần áo mới, một túi xách trong có lương khô và một số đồ dùng cá nhân cần thiết.
Riêng anh em tù binh Phú Quốc, mặc dù địch cố tình bưng bít, không phổ biến Hiệp định Paris, anh em vẫn biết được nhờ công tác bình vận. Một số quân cảnh lén đem báo xuất bản ở Sài Gòn vào cho anh em xem hoặc báo vắn tất cho anh em biết tình hình trao trả một số địa điểm trao trả.
Ngày trao trả, anh em ra về, bỏ lại tất cả những đồ đạc trang bị cá nhân. Một số anh em xé bỏ mùng mền, không để cho địch dùng. Những năm sau, khi phong trào đấu tranh lên mạnh, anh em đòi địch cấp phát mùng mền mới để tránh những bệnh lây lan khi phải sử dụng đồ cũ. Ở một số phân khu, địch đáp ứng phần lớn yêu cầu của anh em. Về mến, địch cấp phát cho anh em phần lớn là mền nỉ cá nhân còn tốt. Về mùng, chúng cấp được một số mới, còn lại tuy không phải hoàn toàn mới nhưng còn tốt, lành lặn và được giặt giũ sạch sẽ trước khi đưa đến cấp phát cho anh em. Tuy nhiên, nhiều phân khu địch không thay đổi gì cả.
Trước ngày trao trả, một số quân cảnh và giám thị đến hỏi xin mùng mền. Những thứ này đem về dùng còn tốt hoặc đem ra chợ bán cũng có giá. Anh em cho chúng, tranh thủ làm công tác chính trị, bình vận, có khi còn giúp chúng cách đưa ra ngoài nhằm tránh những cặp mắt tò mò của địch.
Khi lên máy bay đưa đi trao trả, địch vẫn để anh em mặc bộ quần áo nâu có hai chữ “TB” thường ngày, không có trang bị mới gì cả. Chúng phát cho mỗi người một túi lương khô để ăn bữa trưa. Đây là bữa ăn cuối cùng địch cấp cho anh em. “Buổi chiều sẽ ăn cơm của mình rồi!” Ý nghĩ đó cùng với ý nghĩ chỉ trong vài tiếng đồng hồ nữa thôi, mình sẽ gặp lại đồng chí, đồng bào đã làm cho anh em quên cả đói. Anh em không nhận túi lương khô của địch. Tên quân cảnh cấp lương thực nói: Các ông nên nhận để ăn trưa kẻo đói, đến chiều tối mới có cơm. Anh em biết vậy nhưng vẫn không nhận, tuyệt thực 5 – 10 ngày còn chịu nổi huống gì nhịn đói một buổi!
Những anh em trao trả ở Quảng Trị, sau khi xuống máy bay lại lên xe GMC đi tiếp. Dọc theo đường gần đến sông Thạch Hãn, ngược chiều với anh em là những xe chở lính ngụy vừa được ta trao trả, người nào cũng mặc quần áo mới, trên tay có một túi xách đựng đồ dùng cá nhân.
Đến sông Thạch Hãn, sau khi điểm số với sự chứng kiến của phái đoàn quân sự bốn bên và Ủy ban Quốc tế, anh em được lệnh xuống sông để lên canô về bờ Bắc. Tức thì, không ai bảo ai, tất cả đều cởi bỏ quần áo nâu có hai chữ TB ném lên bờ để lại cho địch, mỗi người chỉ còn mặc mỗi chiếc quần cụt, vội vàng nhảy lên canô. Một số đoàn còn giương cả lá cờ Mặt trận lên, lá cờ anh em phải tốn nhiều công sức mới may được và giấu đem về đến đây.
Chiếc canô chưa kịp cập bến, anh em đã nhảy xuống nước chạy vào. Trên bờ, nhiều đồng chí mặc đồng phục Quân Giải phóng cũng chạy xuống sông dìu anh em lên.
“Đồng chí đây rồi! Tự do đây rồi!”
Bao nhiêu năm bị địch giam cầm, đánh đập, khảo tra, bao nhiêu xương máu đổ xuống đều cố gắng chịu đựng, chỉ đợi có ngày này.


