Bài viết

81 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị: Khúc tráng ca máu và hoa

26/01/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 4 nắng vàng rực rỡ, trong khuôn viên Thành cổ Quảng Trị, tiếng ve kêu râm ran không dứt. Những vết đạn vẫn còn loang lổ trên những tường đá nhuốm thời gian, nơi từng chứng kiến 81 ngày đêm của mùa hè đỏ lửa 1972.

Nơi đây, từng viên gạch, từng tấc đất đều có phần máu thịt của những người lính tuổi mười tám, đôi mươi. Họ ngã xuống, để đất nước đứng lên.

Đã 50 năm đất nước thống nhất, những ngọn rêu xanh phủ kín vết đạn loang lổ trên những bức tường Thành cổ. Những ngày tháng 4 lịch sử, Thành cổ Quảng Trị nhắc nhớ bao thế hệ tìm về. Sự kiện 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị mãi mãi là ký ức bi tráng không thể nào quên của những người từng chiến đấu tại Quảng Trị năm ấy. Tháng 4 này, những cựu chiến binh khắp mọi miền Tổ quốc lại tìm về chiến trường xưa, trong đó, có nhiều cán bộ, chiến sĩ từng là người lính K3- Tam Đảo năm xưa. Họ là những người cuối cùng rút khỏi Thành cổ.

Ngày đó, những chiến sĩ Thành cổ tuổi đời chỉ mười tám, đôi mươi. Họ là những sinh viên tạm gác bút nghiên để lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc. Mùa hè năm 1972, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt. Thành cổ Quảng Trị – một pháo đài hơn 180 năm tuổi – bỗng trở thành tâm điểm giao tranh giữa quân Giải phóng và lực lượng quân đội Sài Gòn do Mỹ hậu thuẫn. Suốt 81 ngày đêm, nơi đây trở thành chiến trường đẫm máu, mỗi mét vuông đất hứng chịu hàng ngàn quả pháo, không một cành cây, ngọn cỏ nào có thể sống được. Quân ta kiên cường trụ vững suốt 81 ngày, đêm làm thất bại ý đồ tái chiếm toàn bộ Quảng Trị của địch, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, mở đường cho Hiệp định Paris năm 1973.

Trong 81 ngày đêm ấy, mỗi ngày có 1 đại đội bơi qua sông Thạch Hãn và mỗi ngày có 1 đại đội không quay về nữa. Lớp trước ngã xuống, lớp sau xông lên! Hàng ngàn người con ưu tú của Tổ quốc nằm xuống, xương máu của các anh đã quyện vào đất thiêng Thành cổ, hòa vào đáy sông Thạch Hãn để ngàn đời sau vẫn mãi khắc ghi.

Cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 mang đậm dấu ấn của Tiểu đoàn K3- Tam Đảo, đơn vị đã có lời thề quyết tử: "K3- Tam Đảo còn, Thành cổ Quảng Trị còn, dù phải hy sinh đến người lính cuối cùng”. Và những người lính của K3- Tam Đảo là những người cuối cùng rời chiến trường Thành cổ năm đó. Ngày 16/9/1972, Tiểu đoàn K3- Tam Đảo chỉ còn lại hơn 10 cán bộ, chiến sĩ và cũng là lúc nhận được lệnh rời khỏi Thành cổ, kết thúc chiến dịch 81 ngày đêm chiến đấu, bảo vệ Thành cổ Quảng Trị.

Anh hùng Lực lượng vũ trang- Đại tá Hán Duy Long, quê xã Hương Trạch, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh nhắc lại những câu chuyện về tháng ngày hào hùng. Ông Long vào chiến trường Thành cổ Quảng Trị khi vừa 18 tuổi đã bắn liên tiếp 9 quả đạn B40 và 1 quả đạn B41 để bảo vệ chốt ở phía Đông Nam thành Quảng Trị. Khi tiếng súng B40 tắt ngấm, địch tháo chạy, ông Long cũng lịm đi. Một người lính bình thường bắn được 3 hay 4 quả B40 đã ù tai, chóng mặt, thế nhưng ông Long đã viết lên kỳ tích khi bắn liên tiếp 9 quả đạn, đẩy lùi thế tấn công của địch.

Nhớ lại những hình ảnh khốc liệt về Thành cổ Quảng Trị, nhớ những đồng đội đã gắn bó với ông trong 81 ngày đêm khói lửa năm nào, cựu chiến binh Hán Duy Long bỗng lặng trong giây phút: “Là những người bám trụ trong 81 ngày đêm, quyết tâm thực hiện lời hứa với Tư lệnh mặt trận là K3- Tam Đảo còn, Thành Cổ Quảng Trị còn. Trong những trận chiến như thế, có những điều không thể cũng trở thành điều có thể bởi khát khao đất nước được độc lập, tạo ra cho mình có được niềm tin, sức mạnh. Bây giờ, mỗi nhành cây, ngọn cỏ, mỗi dòng sông, tấc đất đều thấm đẫm máu của đồng đội chúng tôi.”

Trước sự khốc liệt của chiến trường Thành cổ Quảng Trị, người lính bảo vệ Thành Cổ cũng dự cảm được sự hy sinh của mình. Trong bảo tàng Thành cổ Quảng Trị hôm nay, có một bức thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh, quê ở huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình để lại. Bức thư như là bản “di chúc” của liệt sỹ Lê Văn Huỳnh viết từ chiến trường Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm khói lửa. Trong thư, ông linh tính được mình sẽ hy sinh, viết sẵn lá thư gửi về gia đình nói rõ nơi chôn cất. Trong bức thư này, liệt sĩ Lê Văn Huỳnh không hề nhắc đến một từ “hy sinh”, ông xem điều đó như một lẽ tự nhiên nơi chiến trường khốc liệt này.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn