81 ngày đêm Thành cổ Quảng Trị (Kỳ cuối): Bi tráng một bản hùng ca!
81 ngày đêm, hơn 2km tường thành Quảng Trị biến thành “túi bom” khổng lồ, nơi mỗi chiến sĩ phải chống chọi với hàng trăm quả bom, hàng nghìn viên pháo. Trong mưa bão, trong vòng vây sắt thép, họ vẫn bám trụ từng tấc đất, viết nên bản anh hùng ca máu lửa chấn động lịch sử.
81 ngày đêm Thành cổ Quảng Trị
Ngày 30/3/1972, pháo hiệu của cuộc tiến công chiến lược mùa hè vang lên trên toàn miền Nam. Tại chiến trường Trị - Thiên, Quân Giải phóng ào ạt đánh xuống, phá vỡ từng tập đoàn phòng ngự kiên cố, từ Gio Linh, Cam Lộ, Đông Hà, Ái Tử cho đến trung tâm tỉnh lỵ Quảng Trị. Chỉ sau hơn một tháng, đến ngày 1/5/1972, lá cờ cách mạng tung bay trên thị xã Quảng Trị – tỉnh địa đầu giới tuyến, nối liền hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa với chiến trường miền Nam.

Sự kiện này làm chấn động dư luận trong và ngoài nước. Với Mỹ và chính quyền Sài Gòn, mất Quảng Trị đồng nghĩa với một đòn giáng mạnh vào chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” và uy tín của Tổng thống Nixon trong mùa bầu cử. Do đó, bằng mọi giá, họ phải chiếm lại Quảng Trị để có thế mặc cả tại bàn đàm phán Paris.
Âm mưu “Lam Sơn 72” và quyết tâm giữ Thành cổ
Đầu tháng 6/1972, Mỹ quyết định “Mỹ hóa” trở lại cuộc chiến. Không quân, hải quân Mỹ được huy động tối đa. Hai đơn vị thiện chiến nhất của quân lực Việt Nam Cộng hòa – Sư đoàn Dù và Thủy quân Lục chiến – được tung vào Quảng Trị, cùng với xe tăng, thiết giáp, pháo binh, hải pháo và cả B-52. Chiến dịch phản công mang mật danh “Lam Sơn 72” bắt đầu. Mục tiêu: tái chiếm thị xã Quảng Trị và cắm cờ trên Thành cổ trước ngày 10/7.

Đối diện tình thế ngặt nghèo, Quân ủy Trung ương ra nghị quyết: “Chỉ có một khả năng – giữ vững Quảng Trị, đánh bại cuộc hành quân của địch.” Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ đạo cách bố trí phòng ngự: tổ chức lại hỏa lực pháo binh, phòng không, xe tăng, kiên cố hóa trận địa ở tả ngạn sông Thạch Hãn. Bộ Chỉ huy chiến dịch do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh. Trung đoàn 48 được giao nhiệm vụ nặng nề: giữ thị xã và Thành cổ bằng mọi giá.
Ngày 14/7, Ban Chỉ huy bảo vệ Thành cổ chính thức thành lập. Từ đây, mệnh lệnh sắt đá được truyền xuống từng chiến hào: “Giữ Thành cổ Quảng Trị bằng bất cứ giá nào".
Từ 28/6, quân Dù được Mỹ chi viện hỏa lực tối đa, ồ ạt đánh vào các điểm cao, các làng ven Quảng Trị. Phi pháo trút xuống như bão, có ngày B-52 ném tới 4.000 tấn bom. Quân Giải phóng từ thế tiến công phải co về phòng ngự, chịu tổn thất nặng nề.
Ngày 12/7, Tướng Ngô Quang Trưởng hạ lệnh cho quân Dù: “Đêm nay, bằng mọi giá phải cắm cờ trong Thành cổ.” Một mũi biệt kích lén đột nhập qua cống ngầm, nhưng bị chặn đánh quyết liệt. Không thực hiện được, địch chuyển sang pháo kích điên cuồng: trung bình 15.000 quả đạn mỗi ngày, có lúc hơn 30.000 quả. Bom khoan, bom hơi, chất độc hóa học liên tục được trút xuống, biến Quảng Trị thành địa ngục.
Thế nhưng, từng đợt phản kích của Quân Giải phóng đã khiến mọi mưu đồ cắm cờ sớm phá sản. Thậm chí, ngày 26/7, chính quyền Sài Gòn dựng màn kịch “lễ cắm cờ” ở đình làng Trâm Lý, cách Thành cổ 3km, nhưng bị pháo binh ta phát hiện, bắn phá tan tác. Sau hơn một tháng, quân Dù thiệt hại nặng nề, buộc phải rút lui, nhường chỗ cho Thủy quân Lục chiến.
Khác với chiến thuật ồ ạt của quân Dù, Thủy quân Lục chiến áp dụng lối đánh “lấn dũi”: dùng hỏa lực mạnh nghiền nát trước, sau đó lấn từng bước, củng cố từng chốt, làm hầm kiên cố, đưa xe tăng vào hỗ trợ. Họ tổ chức 3 gọng kìm, từ đông bắc (Tri Bưu, Hành Hoa), tây nam (La Vang, Như Lệ, Bồ Đề) và phía bắc (An Tiêm, chợ Sãi), khép chặt vòng vây quanh thị xã và Thành cổ.
Đúng lúc đó, Quảng Trị gặp mưa bão lớn. Nước sông Thạch Hãn dâng cao, nhấn chìm nhiều trận địa, kho tàng, khiến tiếp tế của Quân Giải phóng gần như tê liệt. Lính ta phải ăn cơm sũng nước, đạn ướt, hầm hào sập lở. Địch lợi dụng, liên tiếp mở các đợt công kích, nhưng vẫn vấp phải những chốt thép kiên cường: Bồ Đề, Đệ Ngũ, Tri Bưu… Ban ngày địch chiếm được, ban đêm ta tập kích giành lại.
Cao trào khốc liệt tháng 9
Đầu tháng 9, địch tung toàn bộ lực lượng, mở trận đánh quyết định. Ngày 9/9, ba tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến cùng xe tăng công phá từ đông nam, tây nam và nam. Giao tranh giằng co từng căn nhà, từng góc phố. Ở khu vực chùa Bà Năm, Ty cảnh sát, Thánh đường Thạch Hãn, chiến sĩ ta chiến đấu đến cùng, nhiều đơn vị hy sinh gần hết quân số. Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95 từ hơn 50 người chỉ còn lại… 7.

Ngày 11/9, một đại đội địch thọc sâu vào Thành cổ, nhưng Tiểu đoàn 3 bộ đội địa phương Quảng Trị lập tức phản kích, đánh bật ra ngoài. Song thế trận ngày càng bất lợi: lực lượng hao mòn, tiếp tế bị phong tỏa, hầm hào sụt lở, vũ khí cạn kiệt.
Ngày 15/9, Thủy quân Lục chiến tổ chức tổng công kích từ ba hướng, được yểm trợ bởi pháo binh, xe tăng, súng phun lửa. Địch chiếm được một phần góc đông bắc và đông nam. Toàn bộ Thành cổ rung chuyển bởi bão lửa. Trong tình thế tuyệt vọng, Ban Chỉ huy quyết định: đêm 15 rạng 16/9, rút quân sang tả ngạn sông Thạch Hãn để bảo toàn lực lượng. Đến 2 giờ sáng, cuộc rút lui cơ bản hoàn tất. 81 ngày đêm bi tráng khép lại.
Trong 81 ngày đêm, Thành cổ Quảng Trị với chu vi chỉ hơn 2km đã trở thành “túi bom” khổng lồ. Trung bình, mỗi chiến sĩ Quân Giải phóng hứng chịu trên 100 quả bom, 200 quả pháo. Ngày 31/7, khoảng 20.000 quả đại bác từ 105mm đến 203mm dội xuống thị xã. Đêm 4/7, B-52 Mỹ ném tới 4.000 tấn bom. Cả vùng đất rung chuyển như động đất liên miên.
Thế nhưng, ý chí của những chàng trai tuổi mười chín, đôi mươi đã vượt qua tất cả. Nhiều người là học sinh, sinh viên miền Bắc vào chiến trường. Họ chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn khủng khiếp: lựu đạn phải ném ở cự ly gần, thậm chí bò vào tận miệng hầm địch mới liệng. Có chiến sĩ mất một bàn tay vẫn xin ở lại cầm súng. Có người như Hán Duy Long, ôm trung liên kẹp nách, diệt 58 tên địch, ba lần bị thương vẫn không rời trận địa.
Mỗi ngày, có đơn vị phải phản kích 5–7 lần, thậm chí 13 lần. Máu xương của hàng vạn người đã hòa vào từng viên gạch Thành cổ.
Ngày nay, Thành cổ Quảng Trị là chứng tích đỏ, nơi máu xương của bao thế hệ đã hóa thành bất tử. Trên bờ sông Thạch Hãn, mỗi đêm trăng, dòng sông vẫn như ngân nga câu hát bi tráng: “Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ, đáy sông còn đó bạn tôi nằm…” – nhắc nhở hậu thế về một bản anh hùng ca không bao giờ phai.


