81 ngày đêm và những chuyến đò
Tiếng bom đạn còn vang vọng trong đầu, tiếng thét đau đớn gọi "mẹ ơi" vẫn chập chờn trong giấc ngủ. Có 4 năm làm du kích nhưng có lẽ điều đọng lại lớn nhất với bà Nguyễn Thị Thu sau này chính là 81 ngày đêm lịch sử chèo đò đưa bộ đội vượt dòng Thạch Hãn.
Vượt mưa bom bão đạn đưa đồng đội qua sông
Năm 1968, khi Mỹ và quân đội Sài Gòn mở rộng căn cứ Ái Tử, cư dân làng Giang Hến, thị trấn Ái Tử (nay thuộc xã Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) bị cưỡng ép rời khỏi mảnh đất cha ông. Nhà cửa tan hoang, họ phải dắt díu nhau về làng Tiền, xã Triệu Giang (nay là xã Ái Tử, Quảng Trị), sống chen chúc trong cảnh nơm nớp giữa bom đạn. Chính trong bối cảnh ấy, Nguyễn Thị Thu bước vào tuổi 18 - cái tuổi đáng lẽ chỉ biết đến mái chèo, con cá, con hến, nhưng chiến tranh đã định đoạt cho chị một số phận khác.
Người dẫn dắt chị vào con đường cách mạng là cụ Nguyễn Con - lão ngư vừa dạm hỏi chị cho con trai mình. Ông không chỉ là cha chồng tương lai, mà còn là người thầy, người cha tinh thần, đưa chị vào hàng ngũ những người dám đem sinh mạng đặt trên dòng nước đỏ máu.
Ngày 28/6/1972, quân và dân ta tiến công, giải phóng Thành cổ Quảng Trị. Từ đó, sông Thạch Hãn trở thành huyết mạch nối hậu phương với chiến trường. Nhưng, cũng chính nơi này biến thành tọa độ chết, khi kẻ thù trút xuống hàng vạn tấn bom đạn. Trong hoàn cảnh hiểm nghèo, những chuyến đò bí mật và những con người thầm lặng trở thành cứu cánh. Cụ Con và chị Thu là hai trong số những người đã tình nguyện gánh vác sứ mệnh ấy.
Trở lại làng Giang Hến sau 18 năm, kể từ lần đầu tiên tôi quyết định đi tìm bà sau khi xem bức ảnh “Cha con lão ngư dân Triệu Phong chở bộ đội và vũ khí tiếp sức cho Thành cổ”, ngôi nhà cấp 4 xây từ hàng chục năm trước nay càng thêm cũ kỹ, xuống cấp. Ở tuổi 71, bà Thu đã già đi nhiều. Vóc dáng bà vẫn mập mạp, thần thái thì khi nhớ khi quên bởi căn bệnh tiền đình mãn tính; thêm chứng huyết áp cao và thoái hóa xương khớp khiến bước chân bà chậm chạp, nặng nề.
Trong câu chuyện, bà Thu lấy xuống bức ảnh treo trang trọng ở gian chính ngôi nhà, đặt ngay trước mặt như để mở đầu cho cả ký ức. Đó là bức ảnh “Cha con lão ngư dân Triệu Phong chở bộ đội và vũ khí tiếp sức cho Thành cổ” - tấm hình tư liệu đã đi cùng năm tháng. Tại Thành cổ Quảng Trị, bức ảnh này cũng được trưng bày ở một vị trí trang trọng, ngay bên phải lối vào tầng 1 của Bảo tàng Thành cổ.
“Bắt đầu từ ngày 28/6/1972, hỏa lực từ các vị trí phía Nam sông dồn dập bắn sang, kéo dài từ Triệu Vân ven biển qua Triệu Trạch, Hải Phú cho đến tận Hải Lệ. Ngoài khơi, pháo hạm gầm rú, trên trời B-52 trút bom, cả Quảng Trị rung chuyển”, bà Thu nhớ lại. Những đêm trắng, pháo sáng quét loang loáng mặt sông. Trong ánh sáng chập chờn ấy, mái chèo của hai cha con vẫn kiên định cắm xuống nước, khua lên từng nhịp chắc nịch, đưa từng đoàn quân vượt sang bờ Nam.
Bà lặng nhìn bức ảnh, rồi trầm ngâm kể: “Bờ Bắc có nhiều bến, từ làng Tiền kéo dài lên tới xã Triệu Thượng, giáp ranh với Triệu Nguyên. Bộ đội chủ lực, dưới sự dẫn đường của bộ đội địa phương và dân quân du kích, chia thành nhiều nhóm để sang sông nhằm giảm thiểu thương vong. Tôi và cha tôi phụ trách ở bến làng Tiền. Từ đây qua chiến địa phía Nam xa hơn so với bến Bắc Nhan Biều (thôn Nhan Biều dưới, xã Triệu Thượng). Vì vậy, hễ ngớt bom đạn, chúng tôi lại chèo dọc sông, ngược lên đó để sang cho kịp”.
Con nước Thạch Hãn dữ dội, thay đổi theo từng giờ. Cha chồng rành sông nước đã dạy bà Thu cách “nghe tiếng nước” để giữ lái. Ban ngày địch đánh phá ác liệt, nhiều chuyến đò phải đi trong đêm tối mịt, chỉ có pháo sáng và tiếng bom. Có lúc bom rơi sát mạn thuyền, bà vừa cầm súng vừa giữ chèo. “Chúng tôi chỉ có một niềm tin phải đưa được các anh sang sông an toàn, nếu hi sinh cũng ngẩng cao đầu” - bà Thu kể.


