81 ngày đưa đò trên “dòng sông máu”
Câu chuyện kể về 81 ngày đêm người nữ du kích chèo đò giữa bom đạn trên sông Thạch Hãn, âm thầm đưa hàng ngàn chiến sĩ vào Thành cổ Quảng Trị, nơi sự sống và cái chết chỉ cách nhau một dòng nước
Tôi là Nguyễn Thị Thu, người xã Triệu Phong, Quảng Trị. Bây giờ tui đã ngoài bảy mươi tuổi rồi, trí nhớ cũng không còn được như xưa, nhiều chuyện đã quên trước quên sau. Nhưng riêng 81 ngày đêm mùa hè năm 1972, những ngày chèo đò trên sông Thạch Hãn, thì không bao giờ tui quên được. Nó cứ như in sâu trong đầu, trong từng giấc ngủ, lúc nào cũng còn vang lên tiếng bom đạn và cả những tiếng gọi “mẹ ơi” đầy đau đớn. Tiếng bom đạn năm xưa vẫn còn vang vọng trong đầu, và tiếng thét đau đớn gọi "mẹ ơi" của những người lính trẻ vẫn cứ chập chờn trong giấc ngủ của tôi mỗi đêm.
Mùa hè năm ấy, tôi vừa tròn 17 tuổi – cái tuổi đẹp nhất của người con gái. Tôi gặp gỡ và nên duyên với ông Nguyễn Câu, con trai của cụ Nguyễn Con, một ngư dân làm nghề cào hến trên sông Thạch Hãn. Chúng tôi mới chỉ kịp làm lễ dạm ngõ đơn sơ, chưa kịp tổ chức đám cưới thì trận chiến bùng nổ. Ông Câu vào miền Nam chiến đấu, còn tôi ở lại cùng bố chồng, dùng chính con đò mưu sinh của gia đình để phục vụ cách mạng. Lúc đó tôi nghĩ đơn giản lắm, mình đã coi nhau như vợ chồng thì nhà chồng cũng là nhà mình, phải cùng bố gánh vác việc nước.
Dòng sông Thạch Hãn khi ấy không còn trong xanh như bây giờ. Những ngày mưa lũ cuối tháng 10, nước dâng cao, đục ngầu và chảy xiết. Trên trời không chỉ đổ mưa mà còn trút xuống hằng hà sa số bom đạn của địch. Dưới mặt đất, máu, mồ hôi và nước mắt của các chiến sĩ hòa vào từng tấc đất Thành cổ. Người ta gọi đây là "dòng sông máu", và với tôi, đó là sự thật tàn khốc mà tôi đã tận mắt chứng kiến suốt 81 ngày đêm.
Ban ngày địch đánh ác liệt, máy bay quần thảo liên tục nên hầu hết các chuyến đò của bố con tôi đều phải thực hiện vào ban đêm. Đêm tối như mực, không một ánh đèn. Chỉ khi nào có ánh lửa từ bom đạn lóe lên giữa không trung, tôi mới kịp nhìn thấy mặt những người chiến sĩ trên thuyền mình trong tích tắc.
Nhà tui có một chiếc đò nhỏ, vốn dùng để cào hến trên sông Thạch Hãn. Không ngờ trong những ngày khốc liệt đó, chiếc đò ấy lại trở thành phương tiện duy nhất để đưa bộ đội vượt sông vào Thành cổ Quảng Trị. Lúc đó, muốn tiếp cận thành cổ chỉ có con đường duy nhất là qua sông. Mỗi ngày, tôi và bố chồng đưa được khoảng 10 chuyến, mỗi chuyến chở không quá 10 người, số còn lại các anh phải tự bơi vượt sông. Những người lính ấy trẻ lắm, đa phần mới 18, 20 tuổi, là sinh viên từ các trường đại học ở Hà Nội vừa gác bút nghiên là cầm súng vào Nam ngay. Điều khiến tôi day dứt và đau lòng nhất cho đến tận bây giờ chính là việc chính tay tôi đưa hàng ngàn chiến sĩ qua sông vào trận địa, nhưng ngày chiến dịch kết thúc, chẳng mấy ai trở lại trên con đò của tôi nữa.
Có những ký ức kinh hoàng mà di chứng bom đạn không thể xóa nhòa khỏi trí óc tôi. Đó là hình ảnh những chiến sĩ bị thương nặng được tôi đưa từ trong Thành ra bờ. Có người vừa chạm được vào đất liền, chưa kịp chuyển đến trạm quân y thì đã hy sinh ngay trên tay tôi. Trước lúc ra đi, họ đau đớn gào thét gọi "mẹ ơi" xé lòng. Tôi xót xa vô cùng, cái cảm giác bất lực nhìn những người bằng tuổi mình ngã xuống thật sự quá ám ảnh. Trong hàng vạn người tôi từng chở qua sông năm ấy, sau này tôi biết chỉ có vỏn vẹn đúng 2 người còn sống sót trở về.
Trong Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị hiện nay có một bức ảnh mang tên "Cha con lão ngư dân Triệu Phong chở bộ đội và vũ khí tiếp sức Thành cổ" do nhiếp ảnh gia Đoàn Công Tính chụp. Người đàn ông nở nụ cười tươi đang lái đò chính là cụ Nguyễn Con – bố chồng tôi, và nữ du kích ôm súng đứng bên cạnh chính là tôi thời thiếu nữ. Nhìn bức ảnh ấy, ít ai hình dung được sự khốc liệt của làn mưa bom phía sau nụ cười lạc quan đó. Mãi đến năm 2007, khi ông Tính tìm về trao lại bức ảnh, tôi mới có được một tấm hình của bố để thờ. Bố tôi sau chiến tranh lại lặng lẽ trở về nghề cào hến cho đến lúc qua đời, chưa bao giờ kể công lao.
Mãi đến năm 2018, tôi mới có cơ hội gặp lại một trong những người hiếm hoi còn sống sót – ông Phạm Hùng, cựu chiến sĩ Thành cổ từ Thái Nguyên lặn lội vào tìm tôi. Gặp lại nhau sau 46 năm, nhìn mái tóc đã bạc phơ, tôi vui mừng khôn xiết nhưng cũng không kìm được nước mắt vì số người được như ông Hùng sao mà ít quá.
Chiến tranh đã lùi xa, tôi và ông Câu giờ đã ngoài 70, sống yên bình bên dòng sông Thạch Hãn này với 4 người con. Nhưng mỗi khi đến dịp lễ lớn, tôi lại ghé Thành cổ thắp nhang. Đứng trước dòng sông hiền hòa ngày nay, tôi vẫn như nghe thấy tiếng sóng vỗ hòa cùng tiếng gọi của đồng đội năm xưa. Tôi kể lại câu chuyện này không phải để nhắc lại nỗi đau, mà để bản thân và mọi người luôn nhớ rằng: Hòa bình hôm nay đã được đổi lấy bằng máu xương của bao lớp người đã nằm lại dưới đáy dòng sông này.



