Bài viết

“ 81 ngày đưa đò trên sông Thạch Hãn”.

Câu truyện viết về bà Nguyễn Thị Thu sau này chính là 81 ngày đêm lịch sử chèo đò đưa bộ đội vượt dòng Thạch Hãn.

Quảng Ninh23/12/2025HOÀNG NGUYỄN BẢO AN (Đoàn phường Móng Cái 1)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

“ Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Có tuổi đôi mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm…”.

Bốn câu trong bài “ Lời người bên sông” của tác giả Lê Bá Dương là những lời đầy xót xa gửi tới những người đồng đội trong trận thành cổ Quảng Trị năm 1972 nơi những con người đã ngã xuống hi sinh vì độc lập dân tộc. Những ngày cuối tháng 10, Quảng Trị bắt đầu vào mùa mưa, những trận mưa ào ạt khiến ruộng đồng chìm trong lũ, nước trên dòng Thạch Hãn dâng cao, đục ngầu chảy xiết. Những ngày mưa lớn như thế khiến nữ du kích Nguyễn Thị Thu (71 tuổi, xã Triệu Phong, Quảng Trị) nhớ về những ngày mưa dữ dội của hơn 50 năm trước. Ngày đó, từ trên trời không chỉ đổ nước mà còn trút cả bom, đạn, dưới mặt đất thì máu, mồ hôi và nước mắt của các chiến sĩ hòa vào từng tấc đất thành cổ.

Mùa hè đỏ lửa năm 1972, bà Thu tròn 17 tuổi, tham gia lực lượng du kích tại địa phương. Ở tuổi trăng tròn, bà gặp gỡ, nên duyên với ông Nguyễn Câu (cũng 17 tuổi), con trai ông Nguyễn Con - một ngư dân làm nghề cào hến trên sông Thạch Hãn. Cả hai chỉ mới làm lễ dạm ngõ đơn sơ, chưa kịp đám cưới thì trận chiến nổ ra. Ông Câu sau đó vào miền Nam, bà Thu ở lại cùng bố chồng giúp bộ đội vượt sông Thạch Hãn. Từ đó, ngày cũng như đêm, hai cha con vượt bom, tránh đạn cùng chiếc đò tiếp tế lương thực, vũ khí và đưa bộ đội vào Thành cổ chiến đấu, rồi lại đưa các chiến sĩ bị thương về hậu phương chữa trị. “Ngày ấy, bom đạn của địch trút xuống như mưa. Bom từ máy bay B52 dội xuống dòng Thạch Hãn khiến nước vàng ố, đục ngầu, cuồn cuộn chảy như thác lũ. Chiếc đò lắc lư, ngả nghiêng như chực chìm”, bà Thu nhớ lại.

Bà Thu cùng bức ảnh do nhà báo Đoàn Công Tính chụp cha con bà lái thuyền đưa bộ đội qua sông Thạch Hãn năm 1972.

Ảnh: Đắc Thành

Mưa bom bão đạn là vậy nhưng bà cùng cha chồng vẫn vững chắc tay lái, trung bình mỗi ngày đò rẽ sóng 30 – 40 lần vượt sông đưa bộ đội vào trận tuyến chiến đấu, rồi cũng trên chiếc đò ấy, không biết bao nhiêu tấn vũ khí, lương thực được tiếp tế cho Thành cổ. Nhiều lần bị địch phát hiện, chúng bắn phá thuyền, hai cha con phải nhảy xuống sông bơi vào bờ. Nguy hiểm là thế nhưng ngày hôm sau họ lại chuẩn bị thuyền mới, tiếp tục nhiệm vụ. Tôi hỏi: “Lúc bấy giờ o có nghĩ đến cái chết không, bom đạn, ác liệt là thế?”. Bà Thu nói: “Thanh niên hăng say đánh giặc, có nghĩ đến chết chóc chi mô”.

Chiến thắng Thành cổ đã tạo đà lợi thế cho ta trên bàn đàm phán Hiệp định Paris năm 1973. Đất nước thống nhất, hai cha con ông lão chèo đò ngày ấy trở về cuộc sống đời thường, cặm cụi gắn bó với dòng Thạch Hãn năm nào nhưng không phải chở bộ đội sang sông nữa mà là cào hến mưu sinh. Năm 1976, bà Thu cưới ông Nguyễn Câu, con trai ông lão chèo đò Nguyễn Con. Năm 1978, do tuổi cao sức yếu, lại bị những di chứng trong chiến tranh gây ra nên ông Con qua đời. Bà Thu cùng chồng bám dòng Thạch Hãn cào hến mưu sinh, nuôi đàn con khôn lớn.

Trên con sông nước cuồn cuộn chảy đã in bóng một nữ du kích cùng cha không quản hiểm nguy ngày đêm rẽ nước đưa bộ đội sang sông, góp phần làm nên chiến thắng vang dội năm nào. Cuộc chiến 81 ngày đêm năm 1972 ở Thành cổ Quảng Trị mãi là khúc ca bi tráng trong cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc. Trên dòng Thạch Hãn năm ấy, có một cô du kích ngày đêm cùng cha vững tay chèo, lái con đò nhỏ tiếp tế lương thực, vũ khí và chở bộ đội ta tiến vào Thành cổ chiến đấu, rồi cũng chính con đò ấy xuôi dòng đưa thương binh về hậu tuyến.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn