Trong chiến dịch Trị Thiên có hai đơn vị được giữ bí mật rất cao trước khi nổ súng: Đó là A7 và Sư đoàn bộ binh 308. Cán bộ chỉ huy, lãnh đạo phải đổi tên. Trung đoàn 202 được mệnh danh là Quang Trung. Tôi được mệnh danh là Hóa. Bộ đặt nhiều hy vọng vào A7.
Tôi và anh Nguyễn Văn Lãng - đoàn trưởng đang bàn bạc công việc tại chỉ huy sở thì nhận được điện khẩn lúc 10 giờ ngày 1-4-1972 của Bộ chỉ huy chiến dịch: “4 giờ 2-4 pháo chuẩn bị, 5 giờ hiệp đồng với Sư đoàn 308 hành quân qua cầu Bến Hải, theo đường 1 vượt Dốc Miếu đánh thẳng vào Đông Hà”.
Thú thật nhận được điện tôi sửng sốt vì chiến trường chưa được nghiên cứu mà phải chiến đấu trong hành tiến theo bản đồ 1/100.000 in năm 1941 (!). Đơn vị bộ binh hiệp đồng không được gặp, không có đại diện của Mặt trận đến để bàn bạc kỹ kế hoạch. Tôi đã từng học ở Học viện xe tăng ở Liên Xô, những bài tập về hiệp đồng tác chiến trên bản đồ trong quá trình tiến quân cũng đã tập, song ở Việt Nam, địa hình phức tạp, quân đội ta chưa qua tác chiến như vậy, nên một mệnh lệnh như thế khó cho cấp dưới hoàn thành nổi nhiệm vụ. Nhưng “Quân lệnh như sơn” mà!
Chúng tôi bàn bạc nhanh, hội ý Thường vụ, không kịp họp Đảng ủy bằng mọi cách kiên quyết chấp hành mệnh lệnh. Phái một tổ trinh sát và cán bộ tham mưu xác minh đoạn đường từ cầu Hiền Lương đến Dốc Miếu. Đồng thời chuẩn bị đường vượt sông nếu đường bộ bị tắc. Chọn Tiểu đoàn 66, mạnh hơn so với Tiểu đoàn 244 đi trước. Các đơn vị trực thuộc nhất là thông tin, trạm phẫu lưu động khẩn trương hoàn thành công tác chuẩn bị. Cử một bộ phận cơ quan cùng đồng chí trung đoàn phó đi với Tiểu đoàn 66. Tập trung thợ sửa chữa, cán bộ kỹ thuật bảo dưỡng và sửa chữa nhỏ một số xe, qua một đêm hành quân cho bộ đội nghỉ ít nhất một vài tiếng, chuẩn bị lương khô, nước uống trên xe.
Cấp tốc họp Chi bộ bất thường, xác định quyết tâm và bàn biện pháp lãnh đạo. Cơ quan chính trị dự thảo ngay chỉ thị công tác Đảng, công tác chính trị để 14 giờ chánh ủy thông qua phổ biến cho các đơn vị nhất là Tiểu đoàn 66. Cử một bộ phận cán bộ chính trị (gồm cán bộ của Trung đoàn và Bộ tăng cường) đi theo đội hình.
Anh Lãng trung đoàn trưởng thường trực tại chỉ huy sở nhận lệnh, chỉ đạo việc chuẩn bị. Tôi và anh Quỳnh chủ nhiệm kỹ thuật ra ngay Cửa Tùng để xem xét và hạ quyết tâm vượt sông khi cần. Cửa Tùng rộng mênh thông, ánh nắng chiều hè yếu ớt chiếu những tia nắng cuối cùng xuống dòng nước. Nước biển đang dâng vào sông. Không thể vượt sông ngay tại cửa mà phải lùi vào trong một ít, trên một đoạn hẹp hơn. Chúng tôi nhanh chóng trở về nơi trú quân mà lòng nặng trĩu.
Vẻ lo lắng của chủ nhiệm kỹ thuật Quỳnh lộ rõ trên nét mặt. Anh tốt nghiệp trường kỹ thuật xe tăng ở Trung Quốc. Thường ngày trong công tác là một cán bộ có trách nhiệm, cần cù. Vậy đứng trước tình hình trên sao khỏi băn khoăn. Về đến chỉ huy sở thì trời sụp tối. Uống một ngụm nước mát lạnh của giếng sâu Vĩnh Thạch làm dịu bớt cái nóng của chiều đầu hè. Anh Lãng hội ý lại là đoạn đường từ cầu Hiền Lương đến Dốc Miếu bị bom đánh nát nhừ, hai bên ruộng nước lầy... Pháo của địch liên hồi bắn vào khoảng trống đó. Không thể vài tiếng đồng hồ khắc phục nổi vật chướng ngại, hơn nữa xe tăng không theo hướng đó không đạt yếu tố bất ngờ.
Tôi và anh Lãng đứng trước 2 hướng: một là báo cáo về chỉ huy sở không thể thi hành mệnh lệnh, hai là vượt sông Bến Hải, hành quân, theo ven biển đến mục tiêu tiến công. Chúng tôi chọn cách thứ hai, mặc dầu nghĩ rằng có thể phải trả giá rất đắt.
Trời vừa sập tối, Tiểu đoàn 66 hành quân, tôi cùng anh Quýnh, chủ nhiệm kỹ thuật và anh Khoái, chủ nhiệm chính trị ra tận bến chỉ huy vượt sông. Trung đoàn trưởng Lãng ở lại chỉ huy theo dõi chung, trực nhận lệnh, điều khiển Tiểu đoàn 244 chuẩn bị săn sàng. Nuốt vội bát cơm để nguội từ lâu, chỉ thị cho phó chủ nhiệm chính trị Hùng về công tác Đảng, công tác chính trị, tôi lên xe đi trước để đến bến. Cho đến lúc bấy giờ vẫn chưa chọn được bến cụ thể.
Chúng tôi đi bộ một quãng, gặp các o du kích tại giao thông hào dọc bờ sông Bến Hải. Nhờ sự chỉ dẫn của các o du kích, bến vượt được chọn cách Cửa Tùng 200m. Du kích đảm nhiệm việc canh gác. Tiểu đoàn 66 có 23 xe tăng thiết giáp lội nước tiếp cận bờ sông. Từ đường đất đỏ đến bờ sông phải vượt qua bãi cỏ đầy hố bom, lái xe phải hết sức cẩn thận để không bị sa hố, không được bật đèn để giữ bí mật.Hội ý ngay với cán bộ phân đội và cơ quan ngay tại bến, chúng tôi đề ra những chỉ thị cần thiết:
- Thời cơ vượt sông tốt nhất là từ 18 giờ 00 đến 0 giờ 00 vì nước lớn, làm giảm lưu tốc của dòng chảy. Nếu lưu tốc nước 1m/s thì xe bơi là tốt nhất, ở biển miền Trung theo chế độ bán nhật triều không đều. Từ 18 giờ 00 - 0 giờ 00 thủy triều lên, sau đó đến sáng mới rút, lưu tốc nước mạnh, các cồn cát sẽ phơi bày, cản trở xe bơi. Phái một tổ trinh sát, dùng ghe sang bờ Nam chiếm đầu cầu.
- Chọn một cán bộ tiểu đoàn đồng thời là trưởng xe đi ngay xe đầu dẫn đầu đội hình đảm bảo “đầu qua đuôi lọt.” Tôi đề cử anh Nguyễn Đức Bền chính trị viên Tiểu đoàn 66, người đã cùng học xe tăng tại Liên Xô với tôi- Anh Bền khỏe mạnh, có kiến thức tốt, lại tháo vát, biết kỹ thuật, đáng lẽ phải cử một số cán bộ chỉ huy đi trước nhưng tiếc là tiểu đoàn trưởng 66 lại không biết kỹ thuật xe tăng! Phải chăng đây cũng là một bài học về công tác cán bộ rất đáng quan tâm. Xe tăng đâu chỉ là “Xe xích trên chở khẩu pháo” như một thủ trưởng phụ trách công tác cán bộ của Tổng cục Chính trị đã nói. - Tập trung ngay các lái xe tại bến để chủ nhiệm kỹ thuật Quỳnh và kỹ thuật viên Huy hướng dẫn về cách lái xuống bến và cách thao tác khi bơi. Oái oăm thay nhiều lái xe tăng lội nước nhưng chỉ mới được học lái trên đồi, đến giờ ra trận mới bổ túc tay lái nước tại chiến trường.
- Sang bờ Nam được trung đội nào hành quân ngay trung đội ấy.
- Đường hành quân theo ven biển sát mép nước, đất chắc, nếu đi dọc cồn cát sẽ bị lún cát). Đến đụng con sông lớn Cửa Việt - Thạch Hãn rẽ sang phải đến Mai Xá Thị, đến ngã tư Sòng đường 1 hiệp đồng với Sư đoàn 308 thọc vào Đông Hà. Chỉ thị như vậy là theo bản đồ chứ bản thân tôi và các cán bộ khác cũng không ai biết địa hình.
- Tránh tác chiến dọc đường, khi trú quân phải ngụy trang kỹ, tổ chức phòng không.
- Xe nào bị hỏng dọc đường ở lại tự khắc phục và chờ đội hình phía sau lên.
- Xe quân y (trạm phẫu đặt trên xe thiết giáp) đi sau đội hình, xử lý vết thương ngay trên xe. Tử sĩ đưa về Vĩnh Linh.
Tuy ý định vượt sông vào thời điểm thuận lợi nhất nhưng biết bao vấn đề phát sinh trong thực tế nên loay hoay mãi đến 0 giờ 00 ngày 2-4, khi nước thủy triều bắt đầu xuống, xe đầu tiên mới bơi được sang sông. Chỉ còn 4 tiếng đồng hồ là đợt cấp tập đầu tiên của pháo vào Đông Hà (theo kế hoạch). Trong tình huống khẩn trương ấy phải cho các xe khác bơi chếch về phía thượng nguồn, bù cho sức đẩy của nước.
Bốn xe vượt qua trót lọt, theo kế hoạch, cắm cờ giải phóng tiến lên. Bốn xe tiếp theo lần lượt bị mắc cạn giữa dòng. Không thể bơi qua được nữa. Vừa lúc ấy bỗng xuất hiện một chiếc ghe từ bờ Nam chèo băng băng qua bờ Bắc. Trên ghe có một người mang súng, một người chèo. Điềm lành hay dữ? Vừa cặp bờ Bắc, người dáng nhỏ nhắn, da men mét, mặt xương xương vội lên tiếng: “Các anh ơi không thể bơi theo đường cũ, sẽ mắc cạn hết, giữa dòng có một cồn cát”, các anh theo tôi đi đúng lạch. Tôi hỏi anh là ai? Người ấy không nói tên- mà bình thản giản dị nói: “Tôi là người dân yêu nước ở bờ Nam, theo dõi hành động của các anh từ chập tối hãy theo tôi”.
Tôi thực sự xúc động trước tấm lòng yêu nước của một người dân giấu tên ấy và ra lệnh tiếp tục vượt sông theo chiếc thuyền đó. Quả nhiên sang được thêm 9 chiếc nứa, cả thảy được 13/23 chiếc. Các xe bị mắc cạn ra sức khắc phục. Nhưng làm sao nâng được một khối thép trên chục tấn? Tôi bảo lấy hết súng đạn ra, chỉ để súng phòng không. Chặt cây ngụy trang như đóng chà giữa dòng, còn cho một người ở lại xe thường xuyên tát nước, trực phòng không, số còn lại lên bờ và bơi trở lại bờ Bắc. Sáng mai thủy triều lên sẽ nâng bưng xe lên và bơi trở lại bờ Bắc. (Khoảng một năm sau tôi từ Nam ra Bắc, lội bộ qua quãng sông này khi thủy triều rút, nước chỉ đến ngực).
13 xe theo mép nước tiến thẳng, trời mờ sáng, đến Cửa Việt sông Thạch Hãn. Quân ngụy bờ nam Thạch Hãn sững sờ hốt hoảng. Súng lớn, súng nhỏ nã vào đội hình chúng tôi. Mặc kệ, đội hình A7 vẫn tiếp tục tiến.
Đến 5 giờ 50 ngày 2-4- 1972 đến Vinh Quang Thượng, cách Đông Hà 5km. Đã lỡ thời cơ hợp đồng đánh Đông Hà, các đơn vị khác đuổi đánh địch từ Quán Ngang đến Đông Hà bị chặn lại ở Bắc Cầu. Cầu bị phá, buộc dừng lại ở bờ Bắc. Ngày 9-4 cuộc tấn công tiếp vào Đông Hà không thành công. Phải đợi đến đợt 2 chiến dịch với cách đánh mới Đông Hà mới bị diệt (27-4-1972). Đội hình 13 xe phải đành tạm trú quân dày đặc trên một gò đất cây lưa thưa phía bắc Vinh Quang Thượng. Lập tức pháo biển và máy bay Mỹ đến oanh tạc. Các chiến sĩ xe tăng dùng súng máy phòng không trên xe chiến đấu đánh trả quân địch suốt 5 giờ liền, bắn rơi một A37. 8 xe của ta bị hỏng, một số cán bộ chiến sĩ của ta hy sinh, trong đó có đại úy Nguyễn Văn Liêm, cán bộ Tuyên huấn của Phòng chính trị Binh chủng.
Đêm 4 rạng 5-4 đơn vị quay về Vĩnh Linh rút kinh nghiệm, củng cố, chuẩn bị cho đợt 2. Suốt đời tôi sẽ ghi nhớ mãi bài học xương máu: Nếu không chuẩn bị được đường sá, không hiểu biết địch tình, hiệp đồng chiến đấu quá sơ sài máu sẽ đổ nhiều và khó hoàn thành nhiệm vụ.
Mở đầu đợt 2 chiến dịch, Trung đoàn không trực tiếp đánh Đông Hà và thị xã Quảng Trị. Nhiệm vụ chính là bao vây chặn đường ra biển, hỗ trợ nhân đần 2 huyện Triệu Phong, Hải Lăng nổi dậy giành chính quyền. Lần này có điều kiện chuẩn bị đường sá, vượt sông chu đáo.
Đêm ngày 27-4-1972, Trung đoàn gồm Tiểu đoàn 66 và Tiểu đoàn 244 hình thành hai mũi vu hồi phía đông Quảng Trị. Từ đêm 27-4 khi thủy triều lên Trung đoàn bơi qua Cửa Tùng, sông Bến Hải, Cửa Việt sông Thạch Hãn. 3 giờ 00 ngày 28-4, đến khu vực điều chỉnh ở thôn Hà Tây (nam Cửa Việt), cùng với Trung đoàn bộ binh 27 tấn công địch ở quận ly Triệu Phong. Khi vượt sông Thạch Hãn có 1 xe bị hỏng, 1 xe bị nước chảy vào máy nổ.
Cuộc chiến đấu trong hành tiến bắt đầu từ 4 giờ 30 ngày 28-4. Sau 5 giờ chiến đấu, bộ binh và xe tăng đã quét sạch địch ở Triệu Phong, đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn bộ binh địch, 1 chi đoàn thiết giáp, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Cần phải nói đến mũi tấn công thứ 4 khi đánh địch ở Ngô Xá Tây, một xe thiết giáp của ta xông thẳng vào đội hình 6 chiếc M113 và M41 đang tháo chạy về đông Triệu Phong, bắt sống một M113. Điều đó cho thấy khi thời cơ cụ thể đã đến, khi kẻ địch hoang mang đến cực độ, ta có thể dùng ít đánh nhiều theo truyền thống của Binh chủng: “Một xe cũng tiến công” vẫn thu thắng lợi lớn.
Huyện Triệu Phong được giải phóng. Phía tây địch ở Đông Hà, Ái Tử, thị xã Quảng Trị tìm đường rút chạy ra biển và xuống phía nam theo đường 1 bị Sư đoàn 324 chặn đánh quyết hệt nên chúng dồn lại Hải Lăng. Tiểu đoàn xe tăng 244 phát triển xuống Thượng Xá, Hải lăng diệt trên 100 tên, bắt 11 tù binh, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng, buộc địch phải co về quận ly Hải Lăng. Đó là kết quả các ngày đánh địch căng thẳng từ tối 29-4 đến 2-5” 1972.
Trong đợt 2 chỉ huy sở Trung đoàn chỉ để bộ phận nhẹ ở Vĩnh Linh lo công tác hậu cần, tiếp nhận thương binh để điều trị. Toàn bộ đội hình vào chiến trường. Tiểu đoàn 66 và Tiểu đoàn 244 hoạt động phía đông, Tiểu đoàn 198 - phía tây. Trung đoàn trưởng đi cùng với đơn vị. Tôi cùng với bộ phận thông tin, một số cán bộ cơ quan đi tiếp sau.
Chúng tôi đi suốt đêm từ Vĩnh Linh đến Triệu Phong. Vì mang nặng và lần đầu tiên đi bộ xa, một số chiến sĩ thông tin (tân binh) rơi lại dọc đường. Với tuổi 42 tôi vẫn dẻo dai hành quân đến đích. Một cán bộ Trung đoàn đến đón tôi một quãng đường và đưa đến chỉ huy sở đóng cách thành cổ Quảng Trị khoảng 1 km đường chim bay.
Khi chuyển sang đánh vào quận lỵ Hải Lăng, chỉ huy sở nhẹ chuyển xuống Hải Lăng. Mật độ hỏa lực địch rất cao. Riêng về pháo, hàng ngày chúng dội vào thành cổ Quảng Trị và xung quanh khoảng 2, 3 nghìn quả pháo 203mm từ tàu biển. Có ngày khói mù mịt, đến ngạt thở vì khói của đạn pháo và hóa học.
Hầm của mỗi người trong Ban chỉ huy cách xa nhau, đi đến nhau bằng giao thông hào. Chỗ giao ban phải đào sâu xuống đất. Trong vòng một tháng địch 17 lần dùng B52 rải bom vào khu vực đóng quân. Có hôm cấp trên báo trước, nhưng không thể dời đi đâu được vì khắp nơi bị cày xới vì bom đạn. Vả lại đến nơi mới phải đào công sự tốn thời gian. Các cây dương liễu dọc đường làng đã bị bom chặt bằng hết. Ván phải đem đi làm hầm.
Có một đêm tôi và chiến sĩ Cảnh liên lạc (nay anh đã là tiểu đoàn trưởng xe tăng) nằm dưới hầm ngay trong nhà bà mẹ 72 tuổi có con tập kết ngoài Bắc. Chúng tôi đào cho bà một hầm, nhưng trời nóng bà không xuống. Khoảng nửa đêm B52 đến dội bom vào chỉ huy sở ngay sát hầm tôi. Địch dùng bom phạt, sát thương trên mặt đất. Bom rơi hàng loạt trước sân và một phần nhà. Nhờ có rặng chuối rất dày nên hạn chế phần nào sức công phá. Chấn động của bom nổ làm sập một góc hầm. Đồng chí Cảnh nói như hét vào tai tôi “Coi chừng một loạt nữa là em và thủ trưởng bị chôn”. Tôi chấn an Cảnh “B52 thông thường ném 3 loạt, loạt 1 giội trúng hầm ta nhưng không sập hẳn, loạt 2 và 3 sẽ ném xa hơn”. Trận ném bom đó diễn ra đúng như vậy. Chợt nghe tiếng kêu của bà chủ nhà. Bà bị thương đùi trái. Cảnh bò lên hầm kéo bà xuống hầm tôi. Chân thưa đứt hẳn, còn lắc lư, máu phụt ra, tôi làm garo, đợi dứt bom gọi quân y đến cấp cứu. Sau đó bà được đưa về Vĩnh Linh điều trị.
Vết thương quá nặng, chắc với cái tuổi cổ lai hy”, bà khó qua được, không kịp gặp con sau 18 năm chờ con, con dâu đi ở riêng, một mình, một bóng, trong túp lều tranh dột nát, nuôi hy vọng. Đến ngày đoàn tụ lại bị tai nạn chiến tranh.
Với tấm lòng người mẹ, bà thương yêu chúng tôi như con đẻ. Ở nhà có mấy con gà mái ghẹ cứ bảo chúng tôi giết thịt ăn, tôi nhất định không chịu. Có hôm bà nhờ cô gái láng giềng giết 2 con, nói là để cúng giỗ nhưng là cái cớ để cho tôi- Bà theo đạo Phật và tu tại gia. Đạo Phật có ngữ giới nên bà không sát sinh. Nơi đóng quân gần cảng Gia Đẳng, bà gởi mua cá trích về kho trong om trong nồi đất, một lớp cá, một lớp ớt. Ở Triệu Phong hầu như nhà nào cũng trồng ớt để xuất khẩu, đợi lúc bộ đội ăn cơm bà đem niêu cá kho ớt ra chiêu đãi. Bộ đội Cụ Hồ ngoài bắc vào đến đâu cũng được dân yêu mến như thế cả, nói sao hết được tấm lòng yêu thương của nhân dân.
Để chỉ huy đơn vị đánh vào quận lỵ Hải Lăng, chỉ huy sở trung đoàn đóng giữa cánh đồng trống trải trong một lùm cây vườn nhà dân, có gò đất cao. Địch rút kinh nghiệm phá hầm sâu của ta, thường dùng bom đào và đạn pháo đào. Có một đêm địch bắn hàng ngàn quả pháo vào chúng tôi. Hầm rung lên chao đảo, tưởng sập. Sáng ra thấy một lỗ sâu hun hút từ ngoài vào hầm tôi. Công binh đào lên thì đó là 1 quả pháo 203mm nổ chậm, đạn chui vào hầm tôi cách chừng 1m nhưng không nổ. Thật may mắn. Chiến tranh có biết bao cái ngẫu nhiên...
Cánh đồng Hải Lăng và Triệu Phong nhiều cá. Ở Triệu Phong dọc theo các con hói (con rạch nhỏ) trồng tre gai kín bít. Ếch lên nằm dưới gốc các bụi tre. Đồng bào không ăn thịt ếch vì theo đạo Phật. Thịt ếch là nguồn cải thiện bữa ăn của bộ đội. Đồng chí Cảnh liên lạc ra đồng dậm chân lên các chỗ có nước trũng là có thể bắt chí ít cũng 1/2kg cá về làm bữa tươi. Lúa đến mùa gặt nặng trĩu hạt. Hải Lăng và Triệu Phong là vựa lúa và cá của Quảng Trị.
Đánh quận lỵ Hải Lăng ta phải đột kích từ ngoài vào Tiểu đoàn 66 đã sử dụng 4 xe tăng - thiết giáp từ Phương Sơn tiến ra Cổ Lũy, cùng bộ binh thọc sâu vào quận lỵ. Đang hành tiến chợt phát hiện địch co cụm ở Mai Đẳng. Lập tức xe 776 do đại đội trưởng Đại đội 3 Tiểu đoàn 66 Phạm Văn Giới điều khiển, một mình xông vào đội hình địch, bắn cháy liền 3 xe M113, quần với địch ngay ở bãi cát Gia Đẳng. Qua vô tuyến điện, tôi nghe được giọng hốt hoảng của tên trung tá ngụy chỉ huy.
Cả đội hình cùng xe 776 như một mũi nhọn thọc mạnh Diên Sanh. Địch phản kích. Tiểu đội trưởng bộ binh cơ giới Đinh Văn Hòe đã dùng B41 bắn cháy 1 xe tăng địch, dùng súng 14,5mm bắn cháy một máy bay. Đây là lần thứ hai anh lập công xuất sắc. Lần thứ nhất ở Triệu Phong, đã dùng súng máy trên xe M113 của địch bắn vào địch.
Viết những dòng này tôi ao ước có đôi cánh thần bay ngay đến xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ An, tìm đến nhà mẹ anh cúi đầu biết ơn bà mẹ, người đã sinh ra và dạy dỗ anh thành một chàng trai tuyệt vời. Anh Hòe vào bộ đội khi học hết lớp 10, không chọn con đường vào đại học mà vào chiến trường. Trong chiến dịch Quảng Trị, anh Hòe đã hy sinh anh dũng và được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang vào ngày 23-9- 1973.
Thương tiếc khi anh ngã xuống, tôi tự trách mình vì đã chậm gửi quyết định điều anh về đào tạo sĩ quan. Lòng say mê chiến đấu không muốn xa đồng đội, anh ở lại vài ngày chiến đấu thêm vài trận, quyết định chưa triển khai thì anh đã hy sinh.
Nói đến anh Hòe không thể không nói đến anh Vũ Xuân Mô xạ thủ 14,5mm, bị thương lần thứ hai không rời vị trí chiến đấu. Nhờ đồng đội buộc chân bị dập nát và chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Tên tuổi hai anh mãi mãi ghi vào lịch sử của Tiểu đoàn 66, Trung đoàn bộ binh cơ giới 202, của Binh chủng Thiết giáp Anh hùng như những dấu son rực rỡ. Chiến đấu ở đây giữa cái sống và cái chết cách nhau như sợi tóc. Biết bao gương anh hùng và không hiếm kẻ hoang mang tìm cách trốn về Bắc, phóng đại mức độ ác liệt, phao tin người này chết, người khác bị thương. Chiến đấu sẽ có hy sinh. Biết có thể hy sinh nhưng người chiến sĩ chân chính vẫn bám trụ, không rời vị trí và tự nguyện làm một “viên gạch lót đường” để Tổ quốc đi đến nền độc lập tự do.
10 giờ 00 ngày 2-5- 1972, ta làm chủ quận lỵ Hải Lăng. Mất Hải Lăng và Triệu Phong địch ở La Vang, Quảng Trị hốt hoảng tháo chạy.
18 giờ 00 ngày 2-5-1972 ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị. Tiểu đoàn bộ binh cơ giới 66 được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất. Trung đoàn 202, đơn vị bộ binh cơ giới đầu tiên của quân đội đã ra đời đúng lúc và phát huy được tác dụng. Trung đoàn có 3 tiểu đoàn, hai Tiểu đoàn 66 và 244 đánh ở phía đông, Tiểu đoàn 198 chiến đấu ở phía tây. Cả hai cánh đều góp phần xứng đáng vào chiến công chung - giải phóng hoàn toàn thị xã Quảng Trị ngày 2-5-1972, kết thúc đợt 2 chiến dịch.
Phát huy kết quả đợt 2 ta phát triển tiến công địch ở bờ nam sông Mỹ Chánh trong khi địch đã điều lực lượng củng cố tuyến phòng thủ đó. Tướng ngụy Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân khu IV ra thay tướng Hoàng Xuân Lãm bị cách chức. Miền Bắc bị ném bom trở lại từ 6-4-1972. Hậu phương chiến dịch bị đánh phá ác liệt bằng phi, pháo làm khó khăn nhiều cho ta về công tác bảo đảm hậu cần, bổ sung quân số.
Cuộc tiến công mới của ta từ 20 đến 26-6-1972 không thành công. Trung đoàn tham gia tấn công vào bắc Thừa Thiên Huế theo hai hướng: Tiểu đoàn 66 và 244 tiếp tục hoạt động ở hướng Đông, Tiểu đoàn 1 98 phối thuộc cho Sư đoàn bộ binh 304 đánh hướng tây đường số 1. Trung đoàn đã tham gia giải phóng 3 xã huyện Phong Điền.
Tôi ghi lại vài nét về trận đánh vào Phong Điền của Tiểu đoàn 244. Lệnh cấp trên phải cho 1 đại đội chọc vào Phong Điền để đánh bọc sườn. Địa hình không biết, sông ngòi, rạch, đồng lầy là trở ngại lớn cho xe tăng. Trung đoàn phái một đại đội xe tăng lội nước, hành quân suốt đêm, bị nhiều lần sa lầy, cản trở khi bơi qua sông, một số xe bị kẹt lại. Đội hình mờ sáng mới đến vị trí. Chưa kịp triển khai tấn công bị máy bay và pháo địch bắn. Ta chống trả quyết liệt, nhưng đơn độc, bầu trời bị địch khống chế, mặt đất không ai phối hợp. Cuối cùng đại đội bị thương vong nặng, không hoàn thành nhiệm vụ.
Một thất bại đau đớn, gần giống vượt sông Bến Hải ngày 2-4-1972. Trong trận chiến đấu này để lại cho chúng tôi một bài học sâu sắc: là một người chỉ huy giỏi phải có mệnh lệnh chính xác sẽ tiết kiệm được xương máu của cấp dưới và là cơ sở vững chắc của sự thành công và ngược lại là đổ nhiều máu, là thất bại. Cái vĩ đại của người chiến sĩ là không hề tính toán, hễ có lệnh là đi là đánh, còn trách nhiệm người chỉ huy phải biết tính toán, chỉ huy bằng những quyết định khoa học.
Tiếp theo đợt 3 là cuộc chiến đấu 81 ngày đêm từ 28-6 đến 16-9 bảo vệ thành cổ và thị xã Quảng Trị. Địch mở cuộc hành quân Lam Sơn 72 phản công ta quyết liệt ưu thế của chúng là phi pháo. Về bộ binh, chúng tung ra 3 sư đoàn và nhiều lực lượng bảo an, dân vệ. Riêng chủ lực chúng có 60.000 tên. Ta cố sức giữ vùng giải phóng, đặc biệt là thành cổ. Nhưng tình trạng chung là bộ đội ta chưa được chuẩn bị kỹ về phòng ngự.
Trong đợt này, trung đoàn chuyển Tiểu đoàn 66 làm dự bị. Tiểu đoàn 244 và 198 phối hợp với đơn vị bạn chiến đấu ở đông, tây đường số 1. Tiểu đoàn 244 đánh một trận tốt ở Thanh Hương, thể hiện rõ tính năng động của anh em. Nhưng bị tiêu hao nặng và Tiểu đoàn 244 mất nhiều xe...
Quân số Trung đoàn thiếu hụt, cán bộ rất lo lắng, có một số ít có giao động. Phải đưa một số cán bộ cơ quan bổ sung cho phân đội chiến đấu. Đồng chí phụ trách hành chính trung đoàn bộ ra làm trung đội phó. Đồng chí đã hy sinh ngay trong trận đánh đầu tiên. Trung đoàn vẫn bám trụ cùng bộ binh chiến đấu quyết liệt với địch để giữ vững vùng giải phóng.
Trước ngày Hiệp định Paris có hiệu lực (8 giờ 00 ngày 28-1-1973), quân ngụy vội vã phái Lữ đoàn 1 kỵ binh mở cuộc hành quân mang tên “Sóng thần” để đánh chiếm lại Cửa Việt. Cuộc hành quân Sóng thần của địch bắt đầu từ ngày 26- 1 - 1973. Lệnh của tên chỉ huy sư đoàn Thủy quân lục chiến ngụy: Dù còn một chiến xa hay một người lính cũng phải lên Cửa Việt để cắm lá cờ 3 sọc của ngụy quyền Sài Gòn. Chúng rất đau khi mất Cửa Việt là vị trí trọng yếu một cửa khẩu nối liền với vịnh Bắc Bộ qua sông Thạch Hãn, sông Bồ Điền với cảng sông Đông Hà. Chiếm Cửa Việt, kiểm soát sông Thạch Hãn làm một ranh giới thiên nhiên để tiếp tục chia cắt hai miền đất nước.
Mặt khác chúng cố giành thắng lợi để tạo thế lợi cho chúng ở Hội nghị Hòa đàm Pan. Chúng lao vào Cửa Việt như những con thiêu thân, ,kết thúc bằng sự thất bại thảm hại. Thiết đoàn 20 ngụy bị xóa sổ, thương vong lớn. Sau này, chính viên Chuẩn tướng chỉ huy trưởng thiết giáp binh ngụy quân đã phải thú nhận là công tác tham mưu của cấp trên rất bê bối, từ tuyến xuất phát đến các mục tiêu dài 10km không có một tuyến kiểm soát nào, không có lực lượng dự bị, không có kế hoạch bảo đảm nhiên liệu đạn dược, không có hải quân, không quân yểm trợ, tiến lên phía trước thì phía sau bị đánh... Từ ngày 20-1-1973 đến lúc kết thúc không có một phi vụ nào yểm trợ vì - không dám bay qua Cửa Việt, hải pháo chỉ có một khẩu bắn được. Thật là một kế hoạch phiêu lưu.
Điều đó chứng tỏ Mỹ rút thì ngụy quân giảm khả năng tác chiến. Tiểu đoàn 66 - Trung đoàn 202 đã tham gia trận phản công xuất sắc, diệt 16 xe tăng, thiết giáp, thu 3 xe M48, 3M41 và 5 xe M113. Đại đội 1 được tuyên dương Anh hùng ngày 23-9- 1973. Trận Cửa Việt ta chiếm được xe M48, đồng chí Vũ Văn Nhật lái xe đã dùng xe (địch trước đồng chí chưa sử dụng bao giờ) kéo 3 xe tăng và 2 xe thiết giáp địch về căn cứ an toàn giữa bom địch.
Chiến dịch Quảng Trị (kể cả đợt phản công của địch) kéo dài từ 30-3-1972 đến 31-1-1973 là chiến dịch Trung đoàn tham gia dài ngày nhất, thử thách gay go ác liệt nhất- lập nhiều chiến công xuất sắc, đồng thời cũng bị thiệt hại lớn so với các chiến dịch và đợt hoạt động trước đó. Nhưng “vàng 10 không sợ lửa” Trung đoàn đã nhanh chóng chỉnh đốn tổ chức và tiếp tục làm nhiệm vụ mới.
Hướng Trị Thiên trên 10 tháng, kéo dài 308 ngày đêm trên không gian rộng, bên cạnh các sư đoàn và Binh chủng thiện chiến của Quân đội nhân dân Việt Nam, Trung đoàn 202 có nhiều trận đánh thắng nổi bật là trận thọc sâu vào Triệu Phong, Hải Lăng ngày 27-4 và chiến thắng Cửa Việt 31-1-1973, cũng có trận không thành công. Nhiều đồng chí đã ngã xuống. Tiểu đoàn 66 đã bị thiệt hại trên 60% xe trong đợt tiến quân ngày 2-4-1972 (tính số xe vượt qua sông Bến Hải).
Thất bại là mẹ thành công. Quyết định thắng lợi do lãnh đạo đúng đắn và chỉ huy giỏi của cấp trên, nhưng quyết định thắng lợi trong từng trận xét cho cùng là do cán bộ, chiến sĩ giáp mặt với kẻ thù làm nên. Trong đó vai trò cán bộ có tính quyết định. Cán bộ xe tăng không phải chỉ là người chỉ huy chung mà còn là người trực tiếp điều khiển chỉ huy xe mình, trực tiếp ra lệnh cho phân đội và thành viên của chính xe mình diệt địch, như tấm gương của đại đội trưởng Nguyễn Văn Giới. Đó là mẫu người chỉ huy phân đội tốt.
Chiến dịch đã tôi rèn Trung đoàn thành lực lượng bộ binh cơ giới vững chắc, làm cơ sở cho việc xây dựng các đơn vị bộ binh cơ giới sau này. Trung đoàn được tổ chức thành Lữ đoàn 202 (ngày 25-10-1973) và sau này nằm trong biên chế Quân đoàn 1. Lữ đoàn tham gia cuộc hành quân thần tốc giải phóng miền Nam mùa xuân 1975.
Sau chiến dịch Quảng Trị, tôi chính thức rời Trung đoàn, chuẩn bị vào B2 nhận nhiệm vụ mới. Là người Chính ủy Trung đoàn trong 8 năm (1965 - 1972), tôi đã chứng kiến sự lớn lên từng ngày và đặc biệt trưởng thành vượt bậc qua chiến dịch Trị Thiên.
Với những dòng này tôi bùi ngùi xúc động biết bao nhiêu khi nhớ lại tình đồng chí thân thiết, nếp kỷ luật chặt chẽ của một Binh chủng kỹ thuật. Điều tâm đắc nhất của công việc mình làm là cùng với tập thể tạo nên đội ngũ cán bộ mạnh từ xe trưởng trở lên và có một tổ chức Đảng mạnh từ cơ sở. |