AHLLVTND - ĐỒNG VĂN CỐNG
TRUNG TƯỚNG ĐỒNG VĂN CỐNG “VỊ TƯỚNG BƯNG BIỀN”- ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN
Đồng Văn Cống sinh tháng 2 năm 1917 tại xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1939. Đến năm 1946 ông gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trong Chiến tranh Đông Dương, ông chiến đấu tại chiến trường Nam Bộ, đã từng giữ các chức vụ: Đại đội trưởng, Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn trưởng và Tỉnh đội trưởng tỉnh Bến Tre (Tỉnh đội trưởng tương đương với Sư đoàn trưởng).
Năm 1954, Đồng Văn Cống tập kết ra miền Bắc (Việt Nam) và được bổ nhiệm: Sư đoàn trưởng Sư đoàn 330; Tư lệnh trưởng Quân khu Hữu Ngạn (1962). Năm 1963 về chiến trường miền Nam Việt Nam chiến đấu, ông được bổ nhiệm tư lệnh Quân khu 9 (1964), rồi Phó tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam từ năm 1965-1972. Tháng 10 năm 1972 đến 1975 ông được phân công là tư lệnh Quân khu 8, thụ phong Thiếu tướng năm 1974.
Ông là một trong những vị chỉ huy có công lao to lớn trong việc xây dựng, thống nhất các lực lượng vũ trang Nam Bộ thời kỳ đầu 9 năm chống Pháp. Từ đó, cuộc đời binh nghiệp lẫy lừng của ông chủ yếu gắn liền với quê hương Bến Tre và sông nước Cửu Long trong 2 cuộc kháng chiến trường kỳ cho đến khi thống nhất nước nhà bằng đại thắng mùa Xuân năm 1975.
Khi Pháp tái xâm lược Nam Bộ, Đồng Văn Cống, Bí thư Chi bộ xã Tân Hào (Giồng Trôm), đã thành lậpĐội du kích Tân Hào ngày 12-2-1946 với 36 người, vũ khí thô sơ. Đội nhanh chóng phát triển lên 80 người, lập nhiều chiến công, được nhân dân gọi là “Bộ đội Ông Cống”. Từ đó, ông được giao làm Chi đội trưởng Chi đội 19, hoạt động ở Bến Tre và các tỉnh lân cận, trong đó có nhiều chiến sĩ quốc tế từng là hàng binh.
Chi đội 19 do ông chỉ huy đánh nhiều trận lớn, tiêu biểu như đồn Lộc Thuận, Thới Lai, và các trận phục kích tiêu diệt lực lượng Pháp, thu hàng trăm vũ khí hiện đại, góp phần chặn đứng các cuộc càn quét quy mô lớn của quân Pháp ở đồng bằng sông Cửu Long. Ngày 12-2 sau này được công nhận làNgày truyền thống lực lượng vũ trang Bến Tre, gắn liền với tên tuổi Đồng Văn Cống.
Năm 1954, với cương vị Ủy viên Thường vụ Khu ủy, Tham mưu trưởng Phân liên khu miền Đông, ông tham gia tổ chức thi hành Hiệp định Giơnevơ, đưalực lượng tập kết ra Bắc. Sau đó, ông được phong Đại tá, làm Tư lệnh Sư đoàn 330.
Sau thời gian học tập nghệ thuật quân sự tại Trung Quốc, ông đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng: Phó Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, Ủy viên Thường vụ Liên khu ủy Khu III, Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu, vàtham gia chỉ huy mở tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển.
Năm 1963, ông trở lại chiến trường miền Nam, lần lượt giữ các cương vị: Tư lệnh Khu 8, Khu 9; Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; Tư lệnh Quân đoàn Dự bị chiến lược trong Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ông được phongThiếu tướng năm 1974, Trung tướng năm 1980.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông giữ quyền Chỉ huy Bộ Tư lệnh Miền, sáng 1-5-1975 có mặt sớm tại Dinh Độc Lập để tổ chức tiếp quản thành phố. Ông khẳng định thắng lợi giải phóng Sài Gòn là kết quả của sự phối hợp giữa tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng, đánh dấu những giờ phút đẹp nhất trong cuộc đời binh nghiệp của mình.
Từ tháng 5 năm 1976 đến tháng 9 năm 1982 Đồng Văn Cống là phó tư lệnh Quân khu 7, quyền tư lệnh Quân khu 7, thụ phong Trung tướng năm 1980. Tháng 10 năm 1982 ông được bổ nhiệm chức vụ Phó Tổng thanh tra Quân đội nhân dân Việt Nam và nghỉ hưu trong cùng năm.
Ông là đại biểu Quốc hội khóa VI. Ông qua đời ngày 6 tháng 8 năm 2005 vì tuổi cao, được an táng ở quê nhà tại Bến Tre.
Đồng Văn Cống đã được Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Độc lập hạng nhất; Huân chương Kháng chiến hạng nhất; Huân chương Chiến thắng hạng nhất; Huân chương Quân công hạng 1, 2, 3; hai Huân chương Chiến công hạng nhất; Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhất; Huy chương Quân kỳ quyết thắng; Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.
Năm 2011, Đồng Văn Cống được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Ông được dựng một đền thờ ở quê nhà Bến Tre.
Tên ông được đặt cho một con đường ở thành phố Thủ Đức của Thành phố Hồ Chí Minh. Tại Cần Thơ, tên ông cũng được đặt cho con đường nối giữa quốc lộ 91 và đường Võ Văn Kiệt.



