AHLLVTND Nguyễn Chí Thanh
Nguyễn Chí Thanh – Vị Đại tướng từ thực tiễn cách mạng
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là một trong những nhà lãnh đạo chính trị, quân sự tiêu biểu, có quá trình hoạt động trải dài qua nhiều giai đoạn quan trọng của đất nước.
Huế28/09/2026Ban Thanh niên Công an tỉnh (Ban Thanh niên Công an tỉnh Đắk Lắk)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Từ một người thanh niên nông dân ở vùng đất giàu truyền thống yêu nước Thừa Thiên, ông từng bước trưởng thành trong phong trào cách mạng, đảm nhiệm nhiều trọng trách của Đảng và Quân đội nhân dân Việt Nam, để lại dấu ấn cả trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng quân đội, phát triển nông nghiệp và chỉ đạo chiến trường miền Nam.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tên khai sinh là Nguyễn Vịnh, sinh ngày 1/1/1914 tại thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Sinh ra trong một gia đình nông dân, ông sớm chứng kiến cuộc sống cơ cực của người dân dưới chế độ thuộc địa và tham gia phong trào cách mạng từ những năm 1930. Tháng 7/1937, Nguyễn Vịnh được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Chỉ một năm sau, ông được giao làm Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên. Hoạt động trong điều kiện thực dân Pháp tăng cường đàn áp, ông nhiều lần bị bắt, giam tại các nhà tù ở Huế, Lao Bảo và Buôn Ma Thuột. Những năm tháng tù đày trở thành một phần trong quá trình rèn luyện bản lĩnh của người cán bộ cách mạng.
Tháng 8/1945, tại Hội nghị toàn quốc của Đảng ở Tân Trào, Nguyễn Vịnh được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên là Nguyễn Chí Thanh. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng, từ Bí thư Xứ ủy Trung Bộ, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, Bí thư Phân khu ủy Bình - Trị - Thiên đến Bí thư Liên khu ủy Khu IV. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông có điều kiện trực tiếp gắn công tác xây dựng Đảng với thực tiễn chiến trường và công tác vận động quần chúng. Tháng 7/1950, ông được điều động giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Phó Bí thư Tổng Chính ủy, tham gia xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Tại Đại hội II của Đảng năm 1951, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị. Năm 1959, Nguyễn Chí Thanh được phong quân hàm Đại tướng.
Không chỉ hoạt động trong lĩnh vực quân sự, Nguyễn Chí Thanh còn để lại dấu ấn trong công tác lãnh đạo sản xuất và phát triển nông nghiệp. Trong những năm đầu xây dựng miền Bắc, ông được giao phụ trách công tác nông nghiệp của Đảng, trực tiếp đi cơ sở, tìm hiểu thực tiễn sản xuất và cổ vũ những phong trào thi đua trong nông nghiệp. Từ thực tiễn ấy, ông đặc biệt coi trọng việc phát huy sức dân, tổ chức sản xuất phù hợp với điều kiện thực tế và gắn chủ trương với đời sống của người dân.
Từ năm 1965, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được điều động vào miền Nam, giữ cương vị Bí thư Trung ương Cục miền Nam, kiêm Chính ủy Quân Giải phóng miền Nam. Trực tiếp hoạt động tại chiến trường, ông cùng tập thể lãnh đạo Trung ương Cục nghiên cứu tình hình, tổ chức lực lượng và đề ra phương thức tác chiến phù hợp. Quan điểm “nắm thắt lưng địch mà đánh” thể hiện cách tiếp cận đưa lực lượng cách mạng áp sát đối phương, hạn chế ưu thế hỏa lực và phương tiện chiến tranh của đối phương. Từ thực tiễn chiến trường, ông thường xuyên tổng kết, phân tích và gửi những bài viết ra miền Bắc, góp phần cung cấp thêm cơ sở thực tiễn cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến.
Cuối năm 1966, Nguyễn Chí Thanh trở ra Hà Nội báo cáo với Trung ương về tình hình chiến trường miền Nam và tham gia chuẩn bị những chủ trương tiếp theo. Theo kế hoạch, ông sẽ trở lại chiến trường miền Nam vào tháng 7/1967, nhưng ngày 6/7/1967, ông qua đời tại Hà Nội sau một cơn bệnh nặng, khi mới 53 tuổi. Hơn 30 năm hoạt động cách mạng, Nguyễn Chí Thanh đã trải qua nhiều vị trí từ cán bộ địa phương, lãnh đạo Đảng đến người đứng đầu công tác chính trị trong quân đội và chỉ đạo chiến trường. Di sản của ông được thể hiện qua sự gắn bó với thực tiễn, khả năng tổng kết từ cơ sở và tinh thần đặt nhiệm vụ cách mạng, lợi ích của nhân dân lên hàng đầu. Tên tuổi Đại tướng Nguyễn Chí Thanh vì vậy đã trở thành một phần đáng nhớ trong lịch sử cách mạng Việt Nam thế kỷ XX.



