AHLLVTND NGUYỄN VĂN BẢY
Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, miền Bắc đã trải qua một thời kỳ "hoa lửa" đầy khốc liệt nhưng cũng sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng – nơi cả một thế hệ sẵn sàng gác lại hạnh phúc riêng để dâng hiến tuổi thanh xuân cho Tổ quốc.

rong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, miền Bắc đã trải qua một thời kỳ "hoa lửa" đầy khốc liệt nhưng cũng sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng – nơi cả một thế hệ sẵn sàng gác lại hạnh phúc riêng để dâng hiến tuổi thanh xuân cho Tổ quốc. Đúng như nhà thơ Nguyễn Đình Thi từng nghẹn ngào viết nên:
"Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa"
Chính từ trong bom đạn ấy, những tượng đài bất khuất đã được tạc vào lịch sử, tiêu biểu là anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Văn Bảy. Giữa bầu trời rực cháy phi pháo, người con Nam Bộ ấy đã hóa thân thành cánh chim phượng hoàng dũng mãnh, khiến những phi công Mỹ lão luyện nhất cũng phải ngả mũ cúi đầu. Để rồi khi khép lại những trang sử vàng, cuộc đời bác Bảy chính là minh chứng hùng hồn cho tinh thần "chân trần chí thép" của người Việt Nam. Trên trời là cánh chim phượng hoàng dũng mãnh, về đời thường lại là nhành lúa chín cúi đầu bình dị.
Đại tá Nguyễn Văn Bảy sinh ngày 2-2-1936 tại ấp Hậu Thành, xã Hòa Thành, huyện Lai Vung, tỉnh Sa Đéc (nay là tỉnh Đồng Tháp). Ông sinh ra trong một gia đình nghèo khó, trước ông còn có 6 người anh chị vì vậy tuổi thơ của ông gắn liền với sự khổ nhọc. Năm lên bảy, ông đã thạo việc đồng áng từ đào đất, ôm đất đắp vườn, khai mương xả nước… đối với những đứa trẻ con thời đó thì những công việc ấy được xem như những công việc thường ngày. Ngoài những buổi phụ gia đình việc đồng áng, ông còn hay đi mò cua bắt ốc, câu cá kiếm lươn một phần giúp cho bữa ăn gia đình thêm đầy đủ, một phần cũng là vì sở thích của một đứa con nít là hay đi khám phá, tìm tòi cái mới xung quanh. Ông cũng rất hay thi thố với tụi con nít quanh xóm nào là kéo tay, vật lộn, chia phe đánh nhau phá phách từ làng trên xuống xóm dưới, nhiều lúc quậy phá đến nổi bị bà con lối xóm “mắng vốn” thế nào buổi đó ông cũng bị một trận đòn ra trò.
Vào những năm phong trào Việt Minh giành chính quyền nổi lên sôi nổi, ông cùng những đứa trẻ trong xóm lại cùng nhau chia phe đánh trận giả, có lần ông lỡ làm bể đầu một đứa nhỏ trong xóm, đợt đó ông bị cha đánh một trận thừa sống thiếu chết. Có lần khác ông cùng với người anh thứ 3 của mình đang đi bắn chim, bỗng nhiên có bọn “tàu bay” của tụi Pháp bay ngang, hai anh em thi nhau xem ai bắn trúng được tụi Pháp. Hai anh em cứ bắn nạn thun rồi làm tiếng súng bằng miệng cho vui tai, bổng nhiên tụi Pháp bắn một loạt đạn, hai người tưởng tụi nó bắn mình nên liền nhảy xuống ao bùn trốn chui, trốn nhủi nhưng khi ngốc đầu dậy thì mới biết là tụi “tàu bay” đang bắn về một chỗ đằng xa chứ không phải bắn mình. Lúc đó hai người quê lắm, nhưng vì sĩ diện nên cả hai lại cùng nhau đi tắm giặt cho sạch.
Tuổi thơ của ông cứ thế mà trôi qua, những đứa trẻ khi nào cũng đã lớn, với một người con trai cao lớn, khỏe mạnh như ông thì việc bị những người lớn tuổi trong làng xóm nhắm đến để cưới cho con cháu họ thường rất hay diễn ra. Và với cái truyền thống thời đó thì chuyện “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” diễn ra rất thường xuyên, ông cũng bị cha mình bắt ép phải đi cưới một người mà mình không hề quen biết, tức quá ông bèn tìm cách trốn nhà đi. Lúc đó cũng rơi vào thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra sôi nổi nhất, ông liền xin gia nhập vào Việt Minh, làm một người lính cụ Hồ.
Trong dòng chảy của "Thời hoa lửa", nếu như chiến trường là nơi thử thách lòng quả cảm trước họng súng quân thù, thì giảng đường và trường huấn luyện lại là nơi thử thách ý chí, bản lĩnh và sức chịu đựng tột cùng của người chiến sĩ. Đối với Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Bảy, hành trình để chạm tay vào cần lái máy bay tiêm kích, làm chủ bầu trời không được trải bằng hoa hồng, mà bắt đầu từ một cuộc chiến vô cùng đặc biệt: cuộc chiến chống lại sự giới hạn của chính bản thân và xóa mù chữ để tiếp thu khoa học kỹ thuật hiện đại.
Năm 1954, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, chàng thanh niên Nguyễn Văn Bảy (khi đó mang tên Nguyễn Văn Hoa) cùng đồng đội giã từ sông nước Nam Bộ để tập kết ra Bắc. Mang theo cái nắng gió của vùng Đồng Tháp Mười và bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, nhưng hành trang văn hóa của ông lúc bấy giờ lại vô cùng ít ỏi: ông mới chỉ học hết lớp 3 của hệ thống giáo dục cũ, biết đọc, biết viết những câu từ căn bản. Trong khi đó, bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ đang đặt ra một yêu cầu cấp thiết. Để đối phó với lực lượng Không quân hùng hậu, tối tân của đế quốc Mỹ, Đảng và Nhà nước ta có chủ trương xây dựng lực lượng Không quân tiêm kích sơ khai nhưng phải tiến thẳng lên hiện đại. Tiêu chuẩn khắt khe để tuyển chọn phi công quân sự thời điểm đó là học viên phải có trình độ văn hóa tối thiểu từ lớp 10/10 (hệ thống giáo dục miền Bắc). Đây là một rào cản mang tính sàng lọc tự nhiên cực kỳ ngặt nghèo, tưởng chừng như đã đóng sập cánh cửa ước mơ của chàng trai miền sông nước. Một người vốn chỉ quen với việc chèo ghe, quăng lưới, quen với thực tế thô mộc của ruộng đồng, làm sao có thể trong một sớm một chiều hiểu được những định luật vật lý đại cương, những phương trình toán học phức tạp hay những nguyên lý hình học không gian.
Thế nhưng, khó khăn không làm chùn bước người chiến sĩ mang dòng máu kiên cường của người con Nam Bộ. Được chọn vào nguồn đào tạo phi công nhờ có thể lực tuyệt vời và phản xạ nhạy bén, Nguyễn Văn Bảy bước vào lớp bổ túc văn hóa đặc biệt tại Lạng Sơn với một quyết tâm sắt đá. Ông bước vào trận chiến với con chữ bằng tinh thần của một người lính ra trận. Lịch sử quân sự Việt Nam vẫn còn lưu truyền phương châm học tập huyền thoại, phản ánh không khí thi đua học tập nghẹt thở của các chiến sĩ thời kỳ đó: “Học lớp 4, sang lớp 5, nằm lớp 6, sải lớp 7, nhảy lớp 8, tiến lớp 9, vịnh lớp 10”.
Đối với Nguyễn Văn Bảy, đây không còn là một câu khẩu hiệu suông, mà là một cuộc chạy đua vũ trang về mặt trí tuệ. “Học ngày không đủ, tranh thủ học đêm”, ông tận dụng mọi khoảng thời gian trống, từ giờ nghỉ trưa đến những canh đêm muộn dưới ánh đèn dầu tù mù, ép bộ não của mình phải dung nạp một khối lượng kiến thức khổng lồ. Những công thức tính toán vận tốc, gia tốc, những định luật Newton, những bài toán lượng giác vốn là rào cản học thuật của một học sinh phổ thông suốt nhiều năm, đã được ông “ngấu nghiến” và làm chủ chỉ trong vòng chưa đầy hai năm (1958 – 1960). Việc hoàn thành chương trình từ lớp 4 lên lớp 10 trong một thời gian ngắn như vậy không chỉ là một kỳ tích về mặt giáo dục, mà đó là sự vắt kiệt sức lao động của trí tuệ, một biểu hiện cao nhất của lòng yêu nước. Ông hiểu rằng, việc ép mình phải thông thái, phải hiểu biết không phải là để lấy tấm bằng, mà là để có đủ tư duy làm chủ vũ khí hiện đại, bảo vệ đồng bào đang rên xiết dưới bom đạn ở quê nhà
Vượt qua cuộc sát hạch văn hóa ngoạn mục, năm 1960, Nguyễn Văn Bảy nằm trong số ít học viên xuất sắc được cử sang Trường Không quân số 3 ở Tương Vân (Vân Nam, Trung Quốc) để chính thức bước vào giai đoạn đào tạo phi công tiêm kích phản lực MiG-17. Nếu như cuộc chiến văn hóa ở trong nước đòi hỏi sự bền bỉ của trí tuệ, thì những ngày tháng khổ luyện nơi đất khách lại là sự tra tấn khốc liệt đối với cả thể xác lẫn tinh thần
Thử thách đầu tiên tại trường bay là rào cản ngôn ngữ. Toàn bộ giáo trình kỹ thuật, các nguyên lý khí động học, cơ học bay, tính toán phần tử bắn và hệ thống khẩu lệnh điều khiển hoàn toàn bằng tiếng nước ngoài. Cụ Bảy lại phải bắt đầu một chu trình học tập mới: vừa học tiếng, vừa dịch nghĩa, vừa tiếp thu kỹ thuật hàng không dưới sự hướng dẫn nghiêm khắc của các chuyên gia.
Đáng sợ hơn cả là những bài tập thể lực chuyên ngành không quân nhằm chuẩn bị cho cơ thể chịu đựng được áp lực ly tâm cực đại khi bay trên bầu trời. Để rèn luyện tiền đình và chống chứng chóng mặt, mất phương hướng, các học viên phải tham gia vào bài tập xoay vòng ly tâm và đu quay quay tít liên tục. Những ngày đầu, việc bị quay lộn ngược trên không khiến cơ thể rã rời, đầu óc quay cuồng, ăn vào là nôn thốc nôn tháo. Nhiều học viên đã phải bỏ cuộc vì cơ địa không chịu đựng nổi, nhưng với Nguyễn Văn Bảy, nôn xong ông lại lau miệng, bước lên máy quay tiếp tục chịu đựng cho đến khi cơ thể thích nghi thì thôi.
Thời tiết tại vùng Vân Nam cũng là một máy nghiền thể lực quân đội đúng nghĩa. Những ngày mùa đông lạnh giá, nhiệt độ xuống thấp, gió buốt thấu xương, hay những ngày mùa hè đổ lửa, nhiệt độ trong buồng lái kín mít tăng lên như một lò thiêu, cụ Bảy vẫn bám chặt buồng lái. Máy bay MiG-17 là loại tiêm kích thế hệ cũ, hoàn toàn không có hệ thống máy tính hỗ trợ hay các thiết bị tự động hiện đại như các dòng máy bay sau này. Điều đó đồng nghĩa với việc mọi động tác bổ nhào, kéo cao, nhào lộn hay cắt đuôi kẻ thù đều đòi hỏi người phi công phải điều khiển hoàn toàn bằng cơ bắp, bằng sự nhạy cảm của các giác quan và một phản xạ chính xác tính bằng phần trăm giây. Mỗi giờ bay trên không là một lần người chiến sĩ phải tập trung cao độ, mồ hôi vã ra như tắm, đối diện với hiểm nguy rình rập nếu tính toán sai lệch dù chỉ một độ góc hay một giây ga. Bằng một ý chí sắt đá, ý thức kỷ luật tự giác tột cùng và khát vọng được bay để chiến đấu, người chiến sĩ Nam Bộ ấy đã tốt nghiệp khóa huấn luyện vào năm 1965, hoàn toàn làm chủ “con chim sắt” tiêm kích phản lực, sẵn sàng trở về nước nghênh chiến với không quân Mỹ.
Ngày đó đã đến, bầu trời miền Bắc tháng 6 năm 1966 đặc quánh tiếng còi báo động, trên màn hình radar, những chấm sáng từ hạm đội Mỹ hiện ra, vô tình lao vào lãnh thổ Việt Nam. Từ một sân bay dã chiến im lìm trong nắng, một chiếc MiG-17 bạc màu bật động cơ rung chuyển. Đó là chiếc máy bay của phi công Nguyễn Văn Bảy, và hôm ấy, lịch sử của Không quân Nhân dân Việt Nam sẽ bắt đầu viết nên một huyền thoại. Ít ai ngờ rằng, con người sắp cất cánh vào vòng xoáy không chiến đó lại xuất thân từ một gia đình thuần nông ở Lai Vung, Đồng Tháp. Ông chưa học hết bậc tiểu học nhưng đã sớm đi theo con đường cách mạng.
Bước ngoặt xảy ra đến khi quân đội “chọn mặt gửi vàng”. Anh thanh niên Nam Bộ được đưa đi huấn luyện lái máy bay phản lực. Không ai ngờ rằng chính cậu nông dân chân đất ấy lại biến chiếc MiG-17 “cổ lỗ sĩ” thành một biểu tượng của bầu trời, trở thành một trong những phi công xuất sắc nhất Việt Nam.
MiG-17 không phải là con chim nhanh nhất bầu trời. Nó là tiêm kích đánh chặn hạng nhẹ, chỉ đạt tốc độ cận âm, không có radar, hỏa lực chỉ gồm ba khẩu pháo và buộc phải tiếp cận cự ly dưới 400m mới có thể tiêu diệt mục tiêu. Tuy nhiên, máy bay MiG-17 ở những vòng lượn thấp và gắt, nó sắc như lưỡi dao. Trong khi đó, những chiếc F-4 Phantom và F-8 Crusader của Mỹ được mệnh danh là “sát thủ MiG”, với tốc độ siêu thanh, tên lửa dẫn đường và công nghệ hiện đại. Sự chênh lệch tưởng chừng như một trời một vực.
Ngày 21 tháng 6 năm 1966, biên đội bốn chiếc MiG-17 của Trung đoàn Không quân Tiêm kích 923 nhận lệnh cất cánh. Trên bầu trời lúc đó là một chiếc RF-8A cùng với phi đội F-8 Crusader hộ tống.
Trong trận chiến đó, dù hai chiếc MiG-17 của ta bị bắn rơi, ông Bảy đã chứng tỏ được một đẳng cấp khác. Ông không run sợ trước hỏa lực vượt trội, ông áp sát cực gần và góp sức cùng đồng đội bắn hạ một chiếc F-8E do phi công Cole Black điều khiển. Đó là chiến công đầu tiên, mở đầu cho chuỗi huyền thoại của người phi công nông dân.
Thành tích của ông Bảy không chỉ đến từ sự may mắn. Nó được xây dựng trên một triết lý chiến đấu táo bạo mà ông thường chia sẻ với thế hệ trẻ: “Lái máy bay như lái trâu cày, cứ nhắm thẳng vào địch mà đánh”.
Đó là chiến thuật “du kích” trên không, biến chiếc MiG-17 chậm chạp thành vũ khí cận chiến lợi hại. Ông Bảy không đua tốc độ với đối phương, mà tận dụng triệt để khả năng cơ động vòng hẹp, “nắm chặt thắt lưng địch mà đánh”, lao thẳng vào đội hình máy bay địch, bất kể bên trái hay bên phải, ở trên hay ở dưới, và bắn toàn bộ cơ số đạn ở cự ly dưới 400m.
Trong gần ba năm không chiến (1965 - 1967), Đại tá Nguyễn Văn Bảy đã thực hiện 94 lần xuất kích, 13 lần nổ súng và chính thức bắn rơi 7 máy bay Mỹ. Với thành tích này, ông chính thức đạt danh hiệu “Ách” (Ace) và trở thành một trong những phi công Ace tiêu biểu đầu tiên của Không quân Việt Nam.
Nhiều năm sau chiến tranh, bầu trời đã yên tiếng động cơ phản lực nhưng mỗi khi nhắc đến MiG-17, người ta vẫn nhớ về người phi công miền Tây với nụ cười hiền và những vòng lượn thép giữa mưa bom. Huyền thoại không nằm ở chiếc máy bay, huyền thoại nằm ở con người đã khiến nó trở nên bất tử. Tháng 1 năm 1967, khi mới 31 tuổi, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và sau khi chiến tranh kết thúc, để lại phía sau những chiến công vang dội, người phi công huyền thoại ấy trở về với ruộng vườn Đồng Tháp, sống cuộc đời bình dị của một người nông dân chất phác. “Bay là máy bay, về là nông dân” đó chính là sự dung dị làm nên tầm vóc của một con người vĩ đại.
Sau khi hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ với Tổ quốc và nghỉ hưu với quân hàm Đại tá, ông Nguyễn Văn Bảy không chọn ở lại thành phố lớn hay an hưởng tuổi già trong sự săn đón, đãi ngộ. Ông quyết định cùng vợ rời TP. Hồ Chí Minh để quay về quê nhà tại ấp Hậu Thành, xã Tân Dương, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Tại đây, người anh hùng từng làm khuynh đảo bầu trời năm xưa tự nguyện "cởi áo lính, khoác áo tơi", trở thành một lão nông tri điền thực thụ. Ông tự tay đào ao nuôi cá, thả ba ba, trồng sen, trồng cây ăn trái và cuốc đất làm vườn. Hình ảnh cụ Bảy với bộ quần áo bà ba đen, chiếc khăn rằn quấn cổ, chân trần lội ruộng, nụ cười rạng rỡ bên chòm râu dài đã trở nên vô cùng thân thuộc với người dân Lai Vung. Ông sống một cuộc đời tự cấp tự túc, hòa mình vào thiên nhiên và xóm giềng, từ chối mọi sự đặc quyền hay phô trương.
Từ những việc làm sau khi rời quân ngũ, chúng ta thấy ngời sáng lên cốt cách cao đẹp, bất biến của một người lính cách mạng ở cụ Nguyễn Văn Bảy. Sự khiêm nhường, giản dị và không màng danh lợi. Đối với ông, vinh quang và những tấm huân chương là câu chuyện của lịch sử và tập thể. Khi trở về với đời thường, ông chỉ muốn là một người dân bình thường, đóng góp cho quê hương bằng lao động chân tay. Sự chuyển đổi từ một phi công tiêm kích huyền thoại sang một lão nông Nam Bộ cho thấy một cái tôi vô cùng nhỏ bé trước nhân dân, nhưng lại vĩ đại trong nhân cách. Tinh thần tự lực cánh sinh và tình yêu lao động. Dù tuổi đã cao, ông không chịu ngơi nghỉ hay dựa dẫm vào chế độ. Người lính ấy giữ nguyên vẹn kỷ luật quân đội và ý chí vượt khó, tay làm hàm nhai, lao động không chỉ để sinh kế mà như một cách rèn luyện thân thể và giữ cho tâm hồn luôn trong sạch. Tình yêu quê hương, đất nước gắn liền với vương thổ. Cốt cách của cụ Bảy chính là biểu tượng mẫu mực của "người lính từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, rồi lại trở về lòng nhân dân". Bản chất nông dân chất phác và bản lĩnh kiên cường của người lính hòa quyện làm một, tạo nên một nhân cách văn hóa độc đáo, hiên ngang trên bầu trời, nhưng lại vô cùng ấm áp, gắn bó với từng tấc đất quê hương khi nằm trong lòng đất mẹ. Đại tá Nguyễn Văn Bảy qua đời năm 2019, nhưng câu chuyện về cuộc đời ông – cả lúc cầm lái tiêm kích lẫn lúc cầm cây cuốc – vẫn luôn là bài học sâu sắc về lối sống, về lòng yêu nước và cốt cách cao đẹp của người lính Bộ đội Cụ Hồ cho các thế hệ mai sau.



