AHLLVTND PHAN HOAN
Từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 11 năm 1946, ông đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng ở cơ sở, gồm Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời xã Điện Nam, Bí thư Thanh niên Cứu quốc xã Điện Nam và Phó Bí thư Thanh niên Tổng Thanh Quyết. Từ tháng 12 năm 1946 đến tháng 5 năm 1947, ông theo học tại Trường Lục quân Khu 5 (Quảng Ngãi). Sau đó, trong giai đoạn từ tháng 6 năm 1947 đến tháng 4 năm 1949, ông là Trung đội trưởng Biệt động đội vùng Điện Bàn, đồng thời là Thường vụ Đảng ủy huyện Điện Bàn.
Từ tháng 5 năm 1949 đến tháng 12 năm 1953, ông giữ chức Huyện đội phó Huyện đội Điện Bàn và tiếp tục tham gia Thường vụ Đảng ủy huyện. Từ tháng 1 năm 1954 đến tháng 5 năm 1955, ông lần lượt đảm nhiệm các cương vị Chính trị viên Tiểu đoàn 17 Quảng Nam, Chính trị viên Trung đoàn 60, Trung đoàn 95 thuộc Sư đoàn 324. Từ tháng 11 năm 1955 đến tháng 7 năm 1956, ông học tập tại Trường Văn hóa Bộ Tổng Tham mưu.
Từ tháng 8 năm 1956 đến tháng 8 năm 1961, ông là Trung đoàn phó và Bí thư Chi bộ học viên trong thời gian học tập tại Học viện Thông tin Liên Xô. Giai đoạn từ tháng 9 năm 1961 đến tháng 4 năm 1965, ông là Đảng ủy viên, Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Khoa Thông tin Trường Trung cao Quân sự. Từ tháng 5 năm 1965 đến tháng 5 năm 1969, ông trở lại chiến trường miền Nam, trực tiếp chiến đấu với cương vị Trưởng ban Thông tin, Phòng Thông tin Mặt trận B3 Tây Nguyên.
Từ tháng 6 năm 1969 đến tháng 9 năm 1971, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 Mặt trận B3, Đảng ủy viên Trung đoàn, sau đó được bổ nhiệm giữ chức Tham mưu phó Mặt trận B3. Từ tháng 10 năm 1971 đến tháng 11 năm 1976, ông giữ nhiều trọng trách: Chỉ huy trưởng Mặt trận Quảng Đà, Chỉ huy trưởng Tỉnh đội Quảng Nam – Đà Nẵng, Ủy viên Thường vụ Đặc khu ủy Mặt trận Quảng Đà và Tỉnh ủy viên tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.
Từ tháng 12 năm 1976 đến tháng 12 năm 1977, ông học bổ túc tại Học viện Quân sự cấp cao. Từ tháng 1 năm 1978 đến tháng 8 năm 1978, ông là Chỉ huy trưởng Tỉnh đội Đắk Lắk, Tỉnh ủy viên tỉnh Đắk Lắk. Từ tháng 10 năm 1978 đến tháng 9 năm 1980, ông tiếp tục giữ chức Chỉ huy trưởng Tỉnh đội Quảng Nam – Đà Nẵng và là Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng.
Từ tháng 10 năm 1980 đến tháng 7 năm 1981, ông là Phó Tư lệnh Binh chủng Thông tin, Đảng ủy viên Binh chủng. Từ tháng 8 năm 1981 đến tháng 3 năm 1983, ông giữ chức Phó Tư lệnh Quân khu 5, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân khu. Từ tháng 4 năm 1983 đến tháng 7 năm 1987, ông là Phó Tư lệnh Quân khu 5 kiêm Tư lệnh Mặt trận 579, tiếp tục tham gia Thường vụ Đảng ủy Quân khu 5. Từ tháng 8 năm 1987 đến tháng 2 năm 1997, ông giữ cương vị Tư lệnh Quân khu 5, Bí thư Đảng ủy Quân khu. Từ năm 1998, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu.
Nguồn: nguoikesu.com



