Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

AHLLVTND PHAN TRUNG KIÊN

TP. Hồ Chí Minh01/10/2026Đoàn xã Tân An Hội (Xã Tân An Hội)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Trung Kiên (bí danh K) sinh ngày 19 tháng 4 năm 1946 tại xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng chí là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, đồng chí mang quân hàm Đại úy, giữ chức Trung đoàn phó Trung đoàn Gia Định. Sau này, đồng chí trở thành Thượng tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, IX, X; nguyên Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương và nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (2002–2011).

Sinh trưởng trong một gia đình nông dân, là con duy nhất trong gia đình, cha hy sinh trong kháng chiến chống Pháp, mẹ mất sớm, đồng chí sớm nuôi dưỡng lòng yêu nước và căm thù giặc. Từ năm 10 tuổi, đồng chí đã tham gia cách mạng, làm nhiệm vụ đưa tin, liên lạc cho cán bộ hoạt động trong vùng địch kiểm soát. Vừa học tập, đồng chí vừa tích cực tham gia công tác cách mạng, vận động bạn bè cùng tham gia đấu tranh chống địch.

Từ một du kích mật, đồng chí trưởng thành thành cán bộ chỉ huy lực lượng vũ trang. Trong suốt thời gian hoạt động từ năm 1961 đến năm 1974, dù hoạt động bí mật trong các ấp chiến lược hay bám trụ tại căn cứ sát vùng địch kiểm soát, đồng chí luôn thể hiện bản lĩnh kiên cường, mưu trí và sáng tạo. Không chỉ trực tiếp chiến đấu, đồng chí còn tích cực tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia cách mạng, góp phần thực hiện hiệu quả phong trào diệt ác, phá kìm kẹp, giành quyền làm chủ cho Nhân dân.

Ngay từ những năm đầu hoạt động, khi lực lượng còn non trẻ, đồng chí nhiều lần bí mật đột nhập vào ấp chiến lược Bàu Sim để rải truyền đơn, tháo gỡ lựu đạn của địch, cắt hơn 1.200 mét hàng rào kẽm gai, dùng loa kêu gọi binh lính đầu hàng và tổ chức nhiều hoạt động đấu tranh táo bạo. Đặc biệt, đồng chí đã trực tiếp tiêu diệt tên Đồn trưởng Bàu Sim – một tên ác ôn khét tiếng – ngay trước cổng đồn, khiến quân địch hoang mang, khiếp sợ.

Năm 1965, đồng chí cùng đội công tác đặc biệt tổ chức tập kích tiêu diệt một trung đội ác ôn tại đồn Tấn Thông (Trại Frăng) vào lúc rạng sáng, khi chúng vừa rời đồn để đi càn quét, cướp bóc và đàn áp Nhân dân.

Trong giai đoạn 1965–1970, đồng chí trực tiếp tổ chức nhiều trận đánh vào các sào huyệt của bọn ác ôn. Tiêu biểu là trận hóa trang đột nhập thị trấn Củ Chi, bắn bị thương tên Rắc – một tên ác ôn khét tiếng. Sau đó, đồng chí sử dụng mìn hẹn giờ đánh sập Chi khu Củ Chi, nơi đóng quân của lực lượng do tên Rắc chỉ huy, tiêu diệt hơn 10 tên địch. Chiến thắng này góp phần làm suy giảm tinh thần địch, tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào diệt ác, phá kìm kẹp của quần chúng phát triển mạnh mẽ.

Sau Hiệp định Paris năm 1973, địch tiếp tục lấn chiếm và đánh phá vùng giải phóng. Trên cương vị chỉ huy Huyện đội Củ Chi, đồng chí cùng Ban Chỉ huy lãnh đạo lực lượng vũ trang kiên trì bám trụ chiến đấu, gây nhiều tổn thất cho địch. Khi Giang đoàn 22 hoạt động trên sông Rạch Tra và khu vực bót Đá Hàn (xã Bình Mỹ), đồng chí đã vận động Nhân dân kết hợp đấu tranh chính trị với quân sự. Đặc biệt, đồng chí nghĩ ra sáng kiến viết thư cắm trên bè chuối thả trôi theo dòng nước để vận động binh lính đối phương. Những bức thư đầy tình người và chính nghĩa đã góp phần làm dao động tinh thần địch, khiến chúng hạn chế càn quét, giảm bắn phá và bớt đàn áp Nhân dân. Mô hình phát động quần chúng của đồng chí sau đó được Quân khu Sài Gòn – Gia Định chọn làm điển hình để phổ biến, nhân rộng.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đồng chí cùng Ban Chỉ huy Tiểu đoàn chỉ huy đơn vị tiến công tiêu diệt 3 đồn địch, đánh tan một đại đội biệt động quân, tiêu diệt 57 tên, bắt sống 46 tên và bao vây, buộc một chiến đoàn gồm 1.860 tên địch đầu hàng, trong đó có nhiều sĩ quan cấp cao, đồng thời thu toàn bộ vũ khí, trang bị.

Trong quá trình chiến đấu, đồng chí trực tiếp tham gia 36 trận đánh, tiêu diệt 110 tên địch, trong đó có 2 tên ác ôn khét tiếng. Với những chiến công xuất sắc, đồng chí được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba, Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba; 3 lần đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp Quân khu, 2 lần được công nhận Dũng sĩ Quyết thắng cùng nhiều bằng khen, giấy khen.

Sau ngày đất nước thống nhất, đồng chí tiếp tục tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam trước sự xâm lược của tập đoàn phản động Pôn Pốt – Iêng Xa-ri. Đồng chí trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh xuất sắc, giữ vững các chốt chiến đấu. Tiêu biểu là trận tiêu diệt chốt Vạc Xa – Láng Cát, mở đầu Chiến dịch mùa khô năm 1978 của Quân khu nhằm truy quét quân xâm lược ra khỏi biên giới Tổ quốc.

Ngày 6 tháng 11 năm 1978, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng đồng chí danh hiệu cao quý "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân" theo Lệnh số 104/LCT do Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký, ghi nhận những thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và nhiệm vụ bảo vệ biên giới Tây Nam.

Cuộc đời và sự nghiệp của Anh hùng Phan Trung Kiên là biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần quả cảm, mưu trí và ý chí chiến đấu kiên cường của người chiến sĩ cách mạng. Những cống hiến to lớn của đồng chí đã được ghi lại qua nhiều công trình nghiên cứu và tác phẩm như Người con Đất Thép của Lam Giang (Thượng tá Hồ Sĩ Thành) và Lẽ sống của tác giả Diệu Ân, góp phần lan tỏa tấm gương sáng về người con ưu tú của quê hương Củ Chi – Đất thép Thành đồng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn