AHLLVTND TÔ VĨNH DIỆN
Truyền thuyết Thánh Gióng và ý nghĩa quốc phòng
Thánh Gióng là một trong “Tứ bất tử” của dân gian, tượng trưng cho sức mạnh và tinh thần bảo vệ đất nước. Truyền thuyết kể rằng Gióng, một bé trai ba tuổi, bỗng biến thành người khổng lồ, cưỡi ngựa sắt và dùng gươm sắt tiêu diệt giặc ngoại xâm. Câu chuyện này không chỉ là biểu tượng của lòng yêu nước mà còn phản ánh thực tế thời Lý khi quân Nguyên-Mông liên tục xâm lược. Các nhà sử học cho rằng Thánh Gióng được tạo ra nhằm khích lệ tinh thần chiến đấu và thể hiện niềm tin vào sức mạnh tập thể.
Trận Chương Dương (1285) – câu chuyện chiến thắng trước quân Nguyên
Trận Chương Dương 1285 là một trong những trận đánh quyết định của Trần Hưng Đạo, giúp đánh bại quân Nguyên-Mông. Trận đánh được thực hiện bằng chiến thuật “hình thoi” và “đánh lưới”, khiến quân thù mất phương hướng và chịu tổn thất nặng nề. Theo ghi chép trong “Đại Việt sử ký toàn thư”, Trần Hưng Đạo đã tận dụng địa hình sông nước và sử dụng cung tên, pháo lửa để gây bất ngờ. Thành công của trận Chương Dương đã củng cố vị thế của triều đại Trần và nhấn mạnh tầm quan trọng của chiến lược phòng thủ linh hoạt.
Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn và câu chuyện Nguyễn Huệ “Bắc Đẩu”
Khởi nghĩa Tây Sơn (1771‑1802) do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ lãnh đạo, mục tiêu lật đổ chế độ phong kiến lạc hậu. Câu chuyện “Bắc Đẩu” kể về chiến lược di chuyển quân đội từ phía Bắc, tạo bất ngờ cho quân Thanh. Nguyễn Huệ đã áp dụng chiến thuật “đánh nhanh, thắng nhanh”, kết hợp với việc khai thác địa hình núi rừng để đánh bại lực lượng lớn hơn. Kết quả là Tây Sơn giành thắng lợi lớn, mở ra thời kỳ đổi mới và tạo tiền đề cho nền độc lập sau này.
Đường tới độc lập: Câu chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc
Sau hơn hai thập kỷ hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Việt Nam năm 1945, khởi xướng Cách mạng Tháng Tám và tuyên bố độc lập. Câu chuyện này không chỉ là hành trình cá nhân mà còn là biểu tượng cho toàn dân tộc đoàn kết. Theo tài liệu lịch sử, việc trở về của Hồ Chí Minh đã tạo ra sức mạnh tinh thần to lớn, thúc đẩy phong trào kháng chiến và cuối cùng dẫn đến việc thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Những “chuyến hàng đặc biệt”
Câu chuyện về Trung tá Đoàn Trọng Cách quê ở Khánh An, Yên khánh, Ninh Bình (cũ), bây giờ là Đông Hoa Lư, Ninh Bình, tham gia chi viện cũng đầy xúc động. Nhà có hai anh em đều tham gia chiến trường miền nam. Riêng ông đã xung phong đi chi viện từ năm 18 tuổi, trực tiếp tham gia chiến đấu. Ông cho rằng, chính tình cảm gắn bó, chia ngọt sẻ bùi giữa những người đồng chí, đồng đội nơi chiến trường đã giúp ông vượt qua gian khổ, ác liệt của cuộc chiến.
Trung tá Đoàn Trọng Cách bùi ngùi kể lại: “Trong suốt quá trình vào nam chiến đấu, xúc động nhất là những ngày đầu vào gặp các đồng chí cán bộ miền nam. Khi gặp chúng tôi, các anh ôm lấy tôi và hỏi thăm về tình hình phát triển ở miền bắc. Sau đó các anh dạy chúng tôi từ cách nói năng, cách tập kết, huấn luyện, cách đi rừng, cách chiến đấu và cả cách cuốn thuốc lá hút mỗi khi nhớ nhà… Là lính trẻ đang tuổi ăn tuổi lớn, điều kiện ở chiến trường thiếu thốn nhưng các anh luôn nhường cơm cho tôi ăn no. Ngủ các anh mắc võng ở vòng ngoài canh gác cho tôi ngủ ở vòng trong được an toàn. Chỉ bằng những hành động nhỏ nhưng tôi rất cảm động vì những sự quan tâm, tình thương mến như thế này chỉ ở chiến trường mới có”.
Trải qua hoàn cảnh bom đạn ác liệt nơi chiến trường và cũng đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, giờ đây không biết những người anh, người đồng chí năm xưa ông từng gặp như anh Pháo, Anh Trung ở miền bắc; anh Thông, anh Nhung ở miền trung… có còn sống hay không, nhưng mỗi khi nhắc tới ông Cách vẫn rưng rưng xúc động.
Trong thời gian tham gia chi viện được cử vào Ban An ninh khu V, ông Cách vẫn nhớ như in những “chuyến hàng đặc biệt” mà ông phải bảo vệ. Do bí mật của công việc, ông không bao giờ được phép hỏi cụ thể về “chuyến hàng” và giao dịch chỉ bằng các mật khẩu.
Ông nhớ mãi lần bảo vệ “chuyến hàng đặc biệt” là đồng chí Võ Chí Công, lúc đó là Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Khu ủy khu V từ Hà Nội vào họp chuẩn bị phương án giải phóng Buôn Ma Thuột. “Nhận nhiệm vụ đón đồng chí Võ Chí Công từ A Sầu, A Lưới (Thừa Thiên Huế) vào đến huyện Trà My, Quảng Nam-Đà Nẵng (cũ), đến đâu đồng chí cũng xuống trao quà khiến chúng tôi rất lo lắng vì sợ bị địch phục kích. Nhưng rất may mắn là cuối cùng chúng tôi đã bảo vệ và bàn giao đồng chí an toàn” - Trung tá Đoàn Trọng Cách cho biết.
Trung tá Đoàn Trọng Cách cũng không thể nào quên lần bảo vệ “chuyến hàng đặc biệt” khác là đồng chí Khu ủy khu V từ Quảng Nam-Đà Nẵng vào đến Đắk Lắk (cũ). Ông cho biết, lần áp tải “chuyến hàng” này phải đi qua đèo Phượng Hoàng, địa hình hiểm trở lại sương mù phủ kín, nếu bị địch phục kích sẽ rất khó thoát được. Trong quá trình di chuyển, đoàn đã nghỉ một đêm tại Khánh Hòa, sáng hôm sau đồng chí Khu ủy khu V đòi đi sớm, nhưng nhận thấy không an toàn nên ông Cách và lái xe đã tìm cách giữ đồng chí Khu ủy khu V lại. Thật may mắn, lúc đó có đoàn xe của quân đội đi qua, ông Cách đã nhanh trí cho xe của đồng chí Khu ủy khu V đi giữa đoàn. Bởi theo kinh nghiệm, ông cho rằng, nếu địch có phục kích thì sẽ đánh vào đầu hoặc cuối đoàn quân. Nhờ vậy, một lần nữa ông Cách lại lập công bảo vệ an toàn cho các đồng chí cán bộ lãnh đạo cao cấp.
“Sau lần đó tôi đã được biểu dương và được kết nạp vào Đảng sớm”, trung tá Đoàn Trọng Cách chia sẻ.
Nguyễn Tài - Người kiên trung bảo vệ cách mạng trong nhà tù Mỹ, ngụy
Được mệnh danh là “Người kiên trung bảo vệ cách mạng trong nhà tù Mỹ, ngụy”, đồng chí Nguyễn Tài Đông (Nguyễn Tài), nguyên Thứ trưởng Công an, con trai thứ hai của nhà văn Nguyễn Công Hoan với biệt danh Tư Trọng cũng là một trong những huyền thoại được lịch sử khắc ghi. Ông cũng chính là người đã xác nhận và minh oan cho thầy Mười Hương, người luôn trung thành với cách mạng, với Tổ quốc, trong suốt 6 năm bị giam cầm.
Theo Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai, đồng chí Nguyễn Tài sinh ra và lớn lên trong một gia đình có nhiều người tham gia cách mạng sớm và bị tù đày bởi chế độ thực dân. Dù là con trai nhà văn nổi tiếng Nguyễn Công Hoan nhưng ông không theo nghiệp cha mà ngay từ trẻ đã tham gia cách mạng. Hoạt động trong Đoàn Thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu, rồi lên chiến khu Tân Trào học Trường Quân chính kháng Nhật khóa I, tham gia Giải phóng quân. Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ông được phân công về Công an Bắc bộ. Từ năm 1957 đến 1964 ông được giao làm Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị, Bộ Công an. Những năm đó, ông và các đồng đội đã có nhiều đóng góp cho công tác tình báo, phản gián.
Năm 1964 ông tình nguyện vào nam trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tham gia và làm Ủy viên Ban An ninh Trung ương Cục miền nam.
Với các bí danh Tư Trọng, Ba Sáng, Tư Duy, trên cương vị nào ông cũng đều nỗ lực hết mình hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đặc biệt ông đã chỉ đạo tiến hành nhiều trận đánh gây tiếng vang cũng như phát hiện nhiều vụ nội gián, bảo đảm an toàn cho lực lượng cách mạng.
Là “tài sản quý của Đảng”, tuy nhiên sau 6 năm hoạt động bí mật, ngày 23/12/1970, ông bị địch bắt. Với bản lĩnh của một sĩ quan an ninh, Nguyễn Tài đã nhanh chóng vạch ra một “trò chơi nghiệp vụ” để đánh lạc hướng và gây rối cho quá trình điều tra, nhằm bảo vệ tuyệt đối cơ sở của Ban an ninh T4 cũng như quyết tâm không để địch phát hiện ra thân phận thật của mình.
Trong thời gian bị giam cầm, ông đã phải trải qua nhiều nhà tù khác nhau. Bị giam giữ và tra tấn dã man suốt gần 5 năm, nhưng ngay cả những tên điệp viên sừng sỏ nhất của CIA và của ngụy quyền Sài Gòn, với các kỹ thuật hỏi cung và tra tấn tinh vi cả về thể xác lẫn tâm lý, cũng không thể khuất phục được ông.
Trong thời gian bị giam giữ, ông chỉ thực sự bị lộ khi địch vô tình thu giữ được một lá thư quan trọng khi bắt được Hai T. (một cán bộ công tác tại Ban An ninh T4). Ngay lập tức địch đã xây dựng một kế hoạch bài bản để moi thông tin của ông. Trong hồi ký, Đại tá Nguyễn Tài kể, khi bắt đầu phát giác ra ông là Tư Trọng - Trưởng Ban An ninh T4 và là con trai của nhà văn Nguyễn Công Hoan, địch đã mang đến cho ông những cuốn tiểu thuyết và những cuốn sách có in ảnh cha ông, rồi mang cả tấm ảnh ông chụp với Bác Hồ trong chuyến đi thăm xứ Nam Dương...
Thời gian đầu, chúng mua chuộc ông bằng cách dùng bác sĩ kiêm nhân viên tình báo đến vừa khám bệnh, vừa đánh vào tâm lý. CIA Mỹ liên tục rót vào tai ông những lời dụ dỗ: “Nếu ông chấp nhận hợp tác với chúng tôi và nếu ông không thích sống trong nước nữa, ngay lập tức ông sẽ có 20 triệu USD và một căn biệt thự ở Thụy Sỹ, sống xa hoa suốt đời như một triệu phú”, nhưng ông từ chối.
Mỗi ngày ông đều bị đưa lên hỏi cung. Giờ hỏi cung khác nhau, không kể đêm ngày. Mục đích của CIA là làm ông rối loạn. Chúng bắt ông nhịn ăn, nhịn uống và giam ông trong một căn phòng sơn trắng toát, có luồng không khí lạnh buốt và không có không khí để thở khiến đầu óc ông rối loạn, không ngủ được. Bị thiếu ăn, lại sống trong điều kiện khắc nghiệt, mất ngủ, cộng với việc thường xuyên bị hỏi cung khiến đã có những lúc đầu óc ông luôn ở trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê. Nhưng ông đã rèn cho mình một “bản lĩnh thép”. Sợ CIA sẽ tiêm các loại thuốc khiến mình mất kiểm soát, ông còn tập cho mình nói câu “quên”, “quên rồi” để đề phòng ngay cả lúc nửa tỉnh nửa mê ông vẫn có thể nói câu “quên rồi” để bảo vệ cách mạng.
Khi dùng đủ mọi thủ đoạn không mua chuộc được Nguyễn Tài, CIA đã dùng đến những biện pháp tra tấn dã man nhất. Đêm nào chúng cũng đánh ông 4 - 5 trận, vừa tra tấn về thể xác, vừa tra tấn ông về tinh thần. Để củng cố tinh thần của mình, trong tù ông thường xuyên hát Quốc ca, chào cờ. Ông vẽ một ngôi sao ở trên tường và thường nhìn vào đó mỗi ngày để được tiếp thêm sức mạnh…
Với sự kiên trung, bất khuất một lòng bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng, đồng chí Nguyễn Tài được mệnh danh là “Người kiên trung bảo vệ cách mạng trong nhà tù Mỹ, ngụy và dũng cảm bảo vệ nhân cách trong sáng của một đảng viên trước nhân dân”.
Chiến tranh đã qua đi 50 năm, các cán bộ công an chi viện ở rải rác trong cả nước, còn rất nhiều các bí danh, các tên thật trong số hơn 11 ngàn cán cán bộ công an ưu tú chi viện, như đồng chí Hoàng Thanh - ngôi sao sáng trong nhà tù Mỹ Ngụy, vượt qua cực hình tra tấn của địch để trở thành ngôi sao sáng cho đồng đội noi theo giữ vững khí tiết cách mạng. Hay Thượng sĩ an ninh vũ trang chi viện Trần Văn Cường, người trực tiếp ném lựu đạn giữa ban ngày tiêu diệt tên Tướng 2 sao, Tham mưu trưởng Biệt bộ Phủ Tổng thống Ngụy Nguyễn Văn Kiểm tại ngã tư Bà Huyện Thanh Quan vào cuối năm 1968. Đặc biệt, chí khí của đồng chí Mai Chánh (tức Đinh Hoàng Quý) cán bộ cơ yếu chi viện an ninh khu 8, năm 1966, bị bắt khi địch càn quét, bị tra tấn đến chết vẫn không khai nơi chôn cất tài liệu mật mã tuyệt mật…
Cuộc đời và hành động anh hùng của 12 đơn vị mà nòng cốt là cán bộ công an chi viện cùng 21 cán bộ công an chi viện được phong tặng và truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tất cả đều là những câu chuyện huyền thoại, những cái tên đi vào lịch sử, những cái tên đã trở thành tên đường, tên phố để nhắc nhớ thế hệ cháu con mãi mãi không được lãng quên.
Bản lĩnh giữa vòng vây quân thù
Chúng tôi tìm gặp Thượng tá, thương binh Bùi Ngọc Thuận khi ông đã ở tuổi 83, đang sống hạnh phúc cùng gia đình và con cháu ở Cao Phong, Phú Thọ. Câu chuyện về người lính dũng cảm, khi chiến đấu trong lòng địch bị thương nặng, gãy tay, lòi ruột… nhưng vẫn cố gắng bò về đơn vị đã trở thành biểu tượng về sự anh dũng của những dũng sĩ diệt Mỹ năm xưa.
“Tôi ở cùng đơn vị với Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai. Lúc đó, đơn vị đóng quân ngay trong lòng địch. Trên đường trở về thành phố Huế để chiến đấu, chúng tôi bị địch phục kích. Một số đồng chí thoát được, còn lại một số đồng chí bị thương. Trong đó tôi bị thương nặng nhất: gãy tay, gãy 3 xương sườn, thủng phổi và lòi ruột. Trong lúc cấp bách, không có cách nào khác, tôi phải tự ấn ruột vào, rồi tự băng bó và lấy bát úp vào bụng, bò tìm chỗ trú ẩn nghỉ qua một đêm, đến sáng hôm sau dùng mật khẩu tìm đồng đội và trở về căn cứ” - Thượng tá, thương binh Bùi Ngọc Thuận nhớ lại.
Không chỉ Thượng tá Thuận mà ngay cả những đồng chí, đồng đội của ông chứng kiến giây phút phi thường đó cho đến tận bây giờ cũng không thể lý giải được tại sao lúc đó, giữa vòng vây quân thù ông Thuận lại có thể làm được những điều kỳ diệu đến như vậy.
Những “bông hồng thép” giữa rừng già
Tham gia chi viện cho chiến trường miền nam lúc đó còn có cả những nữ thanh niên tuổi đời còn rất trẻ, tiêu biểu như Thượng tá Lê Thị Hồng ở Ban Liên lạc hiện nay. Tham gia “trường nữ trinh sát đặc biệt" khi mới 14 tuổi, học được hơn 3 năm, thì Lê Thị Hồng viết đơn xin tình nguyện vào nam. "Khi đó, các bác lãnh đạo thấy trong miền nam gian khổ quá, không muốn cho tôi đi, nhưng tôi cứ khóc đòi đi” - bà Hồng chia sẻ.
“Được chọn đi chi viện miền nam lúc đó là một niềm tự hào đối với các học viên, cả trường chỉ chọn được 27 người. Chúng tôi được chở xe đến Hà Tĩnh rồi từ đó đi bộ theo đường rừng khoảng 3 tháng tới Trung ương Cục miền nam. Một lần đoàn đang nghỉ thì máy bay địch tới ném bom, cả đoàn nhanh chóng ẩn nấp, may mắn không có thiệt hại về người” - bà Hồng bồi hồi nhớ lại.
Tới căn cứ, bà được phân về công tác tại Trung ương Cục miền nam cùng hai đồng chí nữa. "Bố tôi là chiến sĩ Điện Biên, từng tham gia đánh trận đồi A1 và hy sinh khi tôi mới 2 tuổi. Có lẽ được thừa hưởng tinh thần quả cảm từ bố, nên tôi đã tự lập từ nhỏ. Trong chiến tranh, dù khó khăn gian khổ nhưng tôi luôn giữ vững tinh thần thép hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Hồi ấy, mỗi đêm tôi phải thu 40 đến 50 bức điện. Do nhiễu cao, chúng tôi phải căng tai, căng não tập trung bắt tín hiệu và đánh đúng ký tự, ghi lại thật chính xác để đồng đội bên cơ yếu dịch đúng, dịch chuẩn nội dung các bức điện của địch phục vụ cách mạng" - bà Hồng cho biết.
Nhớ lại những ngày khó khăn trong rừng, bà Hồng chia sẻ thêm: "Do yêu cầu nhiệm vụ bí mật nên chúng tôi đều ở trong rừng, phải tự túc hoàn toàn, ban ngày tự đi làm nương rẫy, kiếm rau rừng. Khổ nhất là mùa khô thiếu nước sinh hoạt, chị em phụ nữ có nhiều điều rất bất tiện. Dù khó khăn gian khổ là vậy, nhưng chúng tôi vẫn luôn vui vẻ, yêu đời, không bao giờ nao núng tinh thần".
Được vào chi viện cho miền nam năm 1969, cùng là cán bộ kỹ thuật như bà Hồng, Trung tá Hà Thị Lan (sinh năm 1948) lại có những kỷ niệm không thể nào quên. “Tôi viết thư xung phong đi chi viện khi đã có người yêu, nhưng sợ mình vướng bận, tổ chức sẽ cân nhắc nên phải giấu, nói dối là chưa có người yêu để được đi”.
Là phụ nữ, lại phải hành quân ròng rã suốt 4 tháng mới đến được Trung ương cục miền nam, đường đi gian khổ, lại bị sốt rét rừng, nên khi đến nơi bà phải nằm viện 4 tháng nữa. Trong thời gian nằm viện bà chỉ mong nhanh khỏe để được ra phục vụ chiến đấu. “Sau này, tôi còn nhiều lần bị sốt rét nữa. Mỗi lần thấy mình tự nhiên ăn khỏe lên là biết sắp bị sốt rét" – bà Lan cười nhớ lại.
Được giao nhiệm vụ dịch các bức thư, điện tín, bà Lan xúc động nhất mỗi khi đọc những bức thư báo tin đồng đội hy sinh nhưng vẫn kiên cường giữ bí mật, giữ được tài liệu cho tổ chức.
Sinh năm 1931, là người dân tộc Tày, quê ở xã Quang Vinh, huyện Phục Hoà, tỉnh Cao Bằng. Anh sinh ra trong một gia đình nghèo có truyền thống cách mạng, cha làm thợ mỏ, mẹ mất sớm, tham gia hoạt động du kích từ ngày còn nhỏ tuổi. Năm 1948, anh xung phong vào bộ đội giữa lúc cuộc chiến tranh Đông Dương đang diễn ra quyết liệt. Anh tham gia hầu hết các chiến dịch lớn trong kháng chiến chống Pháp. Khi hy sinh, đồng chí biên chế thuộc đại đội 674, tiểu đoàn 251, Đại đoàn 316.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân dân ta lúc bấy giờ đang ở giai đoạn quyết liệt. Trong chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954, anh được phân công làm liên lạc tiểu đoàn. Một đại đội của tiểu đoàn được giao nhiệm vụ bao vây ngăn quân Pháp ở Mường Pồn. Lúc đó khi thấy lực lượng của Việt Minh ít, quân Pháp tập trung hai đại đội có phi pháo yểm trợ liên tiếp phản kích, nhưng cả hai lần chúng đều bị quân ta đánh bại. Cuộc chiến đấu diễn ra căng thẳng và quyết liệt, quân Pháp liều chết xông lên, quân ta kiên quyết ngăn chặn chốt giữ.
Nhận lệnh cho đại đội quyết tâm giữ ở Mường Pồn bằng bất cứ giá nào, tạo điều kiện các đơn vị khác triển khai lực lượng, thực hiện các chủ trương của chiến dịch. Mặc dù Bế Văn Đàn vừa đi công tác về nhưng khi thấy chỉ huy thông báo, anh đã xung phong lên đường làm nhiệm vụ. Anh vượt qua lưới đạn dày đặc của Pháp, xuống truyền đạt mệnh lệnh cho đại đội kịp thời, chính xác. Trận đấu càng ngày càng diễn ra ác liệt hơn, anh được lệnh ở lại đại đội chiến đấu cùng đồng đội.
Quân Pháp phản kích lần thứ ba, mở đường tiến, đại đội quân ta bị thương vong nhiều, chỉ còn 17 người, bản thân Bế Văn Đàn cũng bị thương, nhưng anh vẫn tiếp tục chiến đấu. Một khẩu trung liên của đơn vị không bắn được vì xạ thủ hy sinh. Khẩu trung liên của Chu Văn Pù cũng không bắn được vì không có chỗ đặt súng. Trong tình thế hết sức khẩn trương, anh không ngần ngại chạy lại cầm hai chân khẩu trung liên đặt lên vai mình và hô đồng đội bắn. Pù còn do dự thì Bế Văn Đàn nói: “Kẻ thù trước mắt, đồng chí có thương tôi thì bắn chết chúng nó đi”. Trong lúc lấy thân mình làm giá súng, anh bị thêm hai vết thương nữa và hy sinh, hai tay vẫn còn ghì chặt súng trên vai mình.
Sự hy sinh của Bế Văn Đàn đã trở thành tấm gương tiểu biểu trong Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
... “Ngã xuống ở Mường Pồn anh đâu biết có mùa cam,
Anh chỉ biết có dây thép gai đồn giặc
Tôi yêu những con người chưa hình dung ra hạnh phúc,
Lúc đồng đội cần dẫu chết không từ nan”…
(Tác giả: Chế Lan Viên)
Khi hy sinh, anh là tiểu đội phó, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đại hội mừng công của đơn vị Bế Văn Đàn được truy tặng danh hiệu Huân chương Chiến công hạng Nhất và được bình bầu là chiến sĩ thi đua số một của tiểu đoàn. Ngày 31-5-1955, Bế Văn Đàn được Quốc hội nước Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân và Huân chương Quân công hạng Nhì.
Sinh năm 1924 tại xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1946, khi mới 22 tuổi, đồng chí Tô Vĩnh Diện tham gia và dần trở thành chỉ huy dân quân ở địa phương. Năm 1949, đồng chí xung phong vào bộ đội, chiến đấu ở nhiều vị trí, nhiều đơn vị, luôn gương mẫu, đi đầu, vượt qua khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Tháng 5-1953, quân đội ta thành lập các đơn vị cao xạ chuẩn bị cho đánh lớn, đồng chí Tô Vĩnh Diện được điều về làm Tiểu đội trưởng đơn vị pháo cao xạ 37 ly thuộc Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367.
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Tô Vĩnh Diện là Khẩu đội trưởng pháo cao xạ. Suốt chặng đường hành quân, đồng chí Tô Vĩnh Diện luôn hăng hái nhận mọi việc nặng nhọc, động viên đồng đội đưa các khẩu pháo đến nơi tập kết an toàn. Khi kéo pháo qua những chặng đường khó khăn gian khổ, đồng chí Tô Vĩnh Diện luôn xung phong lái pháo, dọc đường hành quân và lúc nghỉ ngơi đồng chí đều nhắc nhở và chủ động kiểm tra tỉ mỉ từng khẩu pháo, đường xá để tránh những nguy hiểm bất ngờ xảy ra.
Sau khi những khẩu pháo 105mm và 37mm được kéo vào chiếm lĩnh trận địa chờ thời cơ nổ súng, để đảm bảo cho chiến dịch Điện Biên Phủ được chắc thắng, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã phải thay đổi phương án tác chiến từ “Đánh nhanh, thắng nhanh” sang phương án “Đánh chắc, tiến chắc”. Bộ đội ta được lệnh kéo pháo ra vị trí tập kết. Tô Vĩnh Diện cùng một đồng chí nữa đi trước cầm càng pháo. Đến đoạn xuống dốc, dây tời bị đứt, anh vẫn ghì chặt càng pháo điều khiển hướng lao của pháo vào vách núi. Trong khoảnh khắc, Tô Vĩnh Diện hô anh em “thà hy sinh quyết bảo vệ pháo” và ngay lập tức anh lao tới để cứu pháo, khẩu pháo khựng lại, nhưng hàng tấn sắt thép ấy đã đè lên người anh. Khi được đồng đội ứng cứu, anh chỉ kịp hỏi: “Pháo có việc gì không?” rồi kiệt sức, hy sinh…
Ngay tại mặt trận, đồng chí Tô Vĩnh Diện được truy tặng Huân chương chiến công hạng Nhất. Anh hùng liệt sĩ Tô Vĩnh Diện đã đi vào lịch sử như một huyền thoại quên mình cứu pháo.
Ca ngợi tấm gương chói sáng đã anh dũng hy sinh, trong bài thơ Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, nhà thơ Tố Hữu đã viết:
“Những đồng chí chèn lưng cứu pháo
Nát thân, nhắm mắt, còn ôm”
Ngày 7-5-1956, đồng chí Tô Vĩnh Diện được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân và trở thành người anh hùng Pháo cao xạ đầu tiên của quân đội ta ngã xuống trên mặt trận Điện Biên Phủ. Hiện nay, hài cốt của đồng chí được Đảng và Nhà nước quy tập và an táng tại nghĩa trang Đồi A1, thành phố Điện Biên Phủ.



