Ai chả muốn sống! Không ai muốn chế.t cả. Nhưng đối với người cách mạng, nếu vì sự nghiệp chung của đất nước, của Tổ quốc, cần phải chế.t thì cũng sẵn sàng thôi.”
“Ai chả muốn sống! Không ai muốn chế.t cả. Nhưng đối với người cách mạng, nếu vì sự nghiệp chung của đất nước, của Tổ quốc, cần phải chế.t thì cũng sẵn sàng thôi.” Lời đáp khẳng khái, đầy dũng khí trước tên mật thám Pháp tại Nhà tù Hỏa Lò cuối năm 1944 không chỉ là lời thề sắt đá của người thanh niên cộng sản Văn Tiến Dũng trước ranh giới sinh tử, mà đã trở thành kim chỉ nam xuyên suốt cuộc đời cách mạng hiển hách của ông. Nhận xét về người đồng đội kiên trung ấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng viết: “Đồng chí Văn Tiến Dũng là một trong những tướng lĩnh tài ba xuất sắc của Quân đội ta, là người học trò ưu tú của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đồng chí Văn Tiến Dũng (bí danh Lê Hoài) sinh ngày 2-5-1917 tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Sinh ra trong một gia đình nghèo, mẹ mất sớm, đến năm 15 tuổi cha ông cũng đột ngột qua đời, khiến ông phải bỏ học phụ anh trai làm nghề may và đi làm thuê tại các xưởng dệt. Sớm giác ngộ cách mạng, ông tham gia hoạt động tích cực trong phong trào công nhân ngành dệt Hà Nội và vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương khi vừa tròn 20 tuổi. Từ năm 1939 đến năm 1944, ông bị thực dân Pháp bắt tới 3 lần: Lần đầu tiên, vì không có chứng cứ, chúng buộc phải trả tự do cho ông sau 3 ngày; Lần thứ hai, sau 2 năm bị đày ở Nhà tù Sơn La, ông mưu trí trốn thoát trên đường địch áp giải về Hà Nội để đưa vào trại tập trung; Lần thứ ba bị bắt năm 1944, ông tiếp tục vượt ngục thành công và bị thực dân Pháp kết án t.ử h.ình vắng mặt. Tháng 4-1945, ông được Trung ương Đảng cử làm Ủy viên Thường vụ Ủy ban Quân sự cách mạng Bắc Kỳ, phân công tổ chức và tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền ở Chiến khu Quang Trung (gồm các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa) kiêm Bí thư Khu ủy Chiến khu Quang Trung. Sau Cách mạng Tháng Tám, tháng 11-1945, ông được giao nhiệm vụ lập Chiến khu 2 (gồm 8 tỉnh phía Tây Bắc và Tây Nam Bắc Bộ), làm Chính ủy Chiến khu, tham gia Quân ủy Trung ương. Từ tháng 11-1946 đến năm 1949, ông đ
“Ai chả muốn sống! Không ai muốn chế.t cả. Nhưng đối với người cách mạng, nếu vì sự nghiệp chung của đất nước, của Tổ quốc, cần phải chế.t thì cũng sẵn sàng thôi.”
Lời đáp khẳng khái, đầy dũng khí trước tên mật thám Pháp tại Nhà tù Hỏa Lò cuối năm 1944 không chỉ là lời thề sắt đá của người thanh niên cộng sản Văn Tiến Dũng trước ranh giới sinh tử, mà đã trở thành kim chỉ nam xuyên suốt cuộc đời cách mạng hiển hách của ông. Nhận xét về người đồng đội kiên trung ấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng viết: “Đồng chí Văn Tiến Dũng là một trong những tướng lĩnh tài ba xuất sắc của Quân đội ta, là người học trò ưu tú của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.
Đồng chí Văn Tiến Dũng (bí danh Lê Hoài) sinh ngày 2-5-1917 tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Sinh ra trong một gia đình nghèo, mẹ mất sớm, đến năm 15 tuổi cha ông cũng đột ngột qua đời, khiến ông phải bỏ học phụ anh trai làm nghề may và đi làm thuê tại các xưởng dệt. Sớm giác ngộ cách mạng, ông tham gia hoạt động tích cực trong phong trào công nhân ngành dệt Hà Nội và vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương khi vừa tròn 20 tuổi. Từ năm 1939 đến năm 1944, ông bị thực dân Pháp bắt tới 3 lần: Lần đầu tiên, vì không có chứng cứ, chúng buộc phải trả tự do cho ông sau 3 ngày; Lần thứ hai, sau 2 năm bị đày ở Nhà tù Sơn La, ông mưu trí trốn thoát trên đường địch áp giải về Hà Nội để đưa vào trại tập trung; Lần thứ ba bị bắt năm 1944, ông tiếp tục vượt ngục thành công và bị thực dân Pháp kết án t.ử h.ình vắng mặt.
Tháng 4-1945, ông được Trung ương Đảng cử làm Ủy viên Thường vụ Ủy ban Quân sự cách mạng Bắc Kỳ, phân công tổ chức và tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền ở Chiến khu Quang Trung (gồm các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa) kiêm Bí thư Khu ủy Chiến khu Quang Trung. Sau Cách mạng Tháng Tám, tháng 11-1945, ông được giao nhiệm vụ lập Chiến khu 2 (gồm 8 tỉnh phía Tây Bắc và Tây Nam Bắc Bộ), làm Chính ủy Chiến khu, tham gia Quân ủy Trung ương. Từ tháng 11-1946 đến năm 1949, ông được cử làm Cục trưởng đầu tiên Cục Chính trị Quân đội quốc gia Việt Nam (nay là Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam), Phó Bí thư Trung ương Quân ủy và được phong quân hàm Thiếu tướng QĐND Việt Nam vào tháng 1-1948. Tháng 10-1949, ông làm Chính ủy Liên khu 3, sau đó kiêm Tư lệnh Liên khu. Tháng 1-1951, ông được cử ra thành lập và làm Chính ủy kiêm Tư lệnh Đại đoàn 320 (Đại đoàn Đồng Bằng), hoạt động trong vùng địch kiểm soát. Trong 34 tháng, ông đã chỉ huy Đại đoàn 320 thực hiện 8 chiến dịch, làm thay đổi cục diện ở đồng bằng Bắc Bộ.
Từ tháng 11-1953 đến tháng 5-1978, đồng chí Văn Tiến Dũng giữ chức Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam suốt 25 năm. Từ người thợ ham đọc, ham học, tích lũy dần kiến thức quân sự, ông đã có nhiều đóng góp lớn cho nghệ thuật quân sự, chỉ đạo trên cả hai miền đúng đắn, sáng tạo. Tháng 5-1954, trong những ngày cả nước vui mừng đón chào thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, ông làm Trưởng đoàn đại biểu của Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam trong Ủy ban Liên hiệp đình chiến thi hành Hiệp định Geneve về Việt Nam. Từ năm 1954 đến năm 1960, ông tập trung trí tuệ, sức lực vào việc triển khai nhiệm vụ xây dựng QĐND tiến lên chính quy, hiện đại và được phong quân hàm Thượng tướng vào tháng 8-1959.
Năm 1971, ông được cử làm đại diện của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh tại mặt trận, trực tiếp chỉ đạo chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ - Ngụy ở Quảng Trị đến Xavannakhet. Năm 1972, khi ta mở cuộc tiến công chiến lược nhằm tạo ra bước chuyển căn bản làm thay đổi cục diện chiến tranh, ông được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo hướng chủ yếu Trị - Thiên. Thắng lợi của chiến dịch Trị - Thiên cùng với các hướng tiến công khác trong cuộc tiến công chiến lược 1972 đã góp phần buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris 1973 về Việt Nam và rút quân về nước. Tháng 4-1974, ông được thăng cấp Đại tướng.
Đầu năm 1975, Bộ Chính trị hạ quyết tâm mở chiến dịch Tây Nguyên với sự chỉ đạo trực tiếp của Đại tướng Văn Tiến Dũng, mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Sau các hoạt động nghi binh, thu hút địch lên hướng Plâycu, Kon Tum, từ ngày 4-3 chiến dịch chính thức bắt đầu. 6 ngày sau, ta nổ súng tiến công thị xã Buôn Ma Thuột, đập tan cuộc phản kích của Sư 23 địch, truy kích địch trận Cheo Reo, Cung Sơn, giải phóng An Khê, Kon Tum, Plâycu, Kiến Đức, Gia Lai, Đak Lak, Phu Bổn, Quảng Đức... tạo điều kiện thay đổi so sánh lực lượng và thế chiến lược, đưa đến bước ngoặt quyết định.
Chiến dịch Hồ Chí Minh (từ ngày 26 đến 30-4-1975) do đồng chí Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh, đồng chí Phạm Hùng làm Chính ủy là chiến dịch quyết chiến chiến lược, táo bạo, kịp thời, chính xác của quân dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975. Đây là một điển hình về hợp đồng chặt chẽ trên quy mô lớn giữa các lực lượng. Không đơn thuần là chiến dịch quân sự quy mô lớn mà còn liên quan mật thiết đến chính trị, xã hội, ngoại giao, Đại tướng Văn Tiến Dũng cùng tập thể Bộ Tư lệnh chiến dịch đã phân tích một cách thấu đáo, toàn diện, cụ thể, tìm ra đáp án tối ưu.
Từ tháng 5-1978 đến năm 1982, Đại tướng Văn Tiến Dũng được giao nhiệm vụ làm Phó Bí thư thứ nhất Quân ủy Trung ương. Từ tháng 2-1980 đến tháng 12-1986, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và làm Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương từ tháng 7-1985 đến năm 1986 (nay là Quân ủy Trung ương). Ngày 17-3-2002, Đại tướng Văn Tiến Dũng qua đời.
Cuộc đời của Đại tướng Văn Tiến Dũng để lại cho thế hệ trẻ hôm nay một bài học sâu sắc về tinh thần tự học, chí tiến thủ và lòng can đảm vượt qua thử thách. Từ một người thợ may, thợ dệt nghèo sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ, ông đã bền bỉ rèn luyện, tự trang bị tri thức để trở thành một tướng lĩnh tài ba của dân tộc. Bài học ấy nhắc nhở lớp trẻ rằng: bất kể xuất phát điểm ở đâu, chỉ cần có hoài bão lớn, tinh thần không lùi bước trước khó khăn và lòng phụng sự Tổ quốc chân chính, mỗi cá nhân đều có thể tạo nên những giá trị bền vững và đóng góp thiết thực cho sự phát triển của đất nước.


